Thứ Hai, 8 tháng 12, 2014

Thăm làng cổ Đông Hòa Hiệp – Tiền Giang

Làng cổ Đông Hòa Hiệp (thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang) nổi tiếng bởi khung cảnh nên thơ, thoáng đãng. Cùng với Đường Lâm (Hà Nội) và Phước Tích (Huế), Đông Hòa Hiệp là một trong 3 làng cổ ở Việt Nam được Tổng cục Du lịch Việt Nam cùng Tổ chức Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) chọn để đầu tư phát triển mô hình du lịch nông thôn.

Du khách đi theo quốc lộ 1A đến ngã ba Cái Bè, rẽ vào Tỉnh lộ 875 chừng 4km sẽ đến trung tâm huyện Cái Bè, đi thêm 2km nữa là đến cầu số 2. Từ đây, du khách sẽ thấy bảng chỉ dẫn đến các nhà cổ: Ba Đức 100m, ông Xoát 3.000m, ông Tòng 900m…
Làng cổ Đông Hòa Hiệp được hình thành từ thế kỷ thứ 18, hiện có hơn 3.000 hộ dân, sống rải rác trong 6 ấp với nguồn lợi chủ yếu từ những vườn cây ăn trái đặc sản của Nam Bộ: xoài cát Hòa Lộc, cam sành, bưởi da xanh, nhãn, vú sữa Vĩnh Kim… Đông Hòa Hiệp còn có các ngành, nghề thủ công truyền thống: làm cốm, tráng bánh tráng, cán bánh phồng sữa… Không giống cách bố trí nhà san sát như ở làng cổ Đường Lâm và làng cổ Phước Tích, làng cổ Đông Hòa Hiệp có một khung cảnh nên thơ, thoáng đãng với những ngôi nhà cổ nằm thấp thoáng giữa những vườn cây trái xanh tươi được bao bọc bởi con sông Cái Bè hiền hòa. Đến đây, du khách thưởng ngoạn cảnh đẹp bình yên của làng bằng cách đi xuồng trên sông hoặc đi bộ men theo những con đường len lỏi giữa các vườn cây rợp bóng.
Một trong những điểm đến ấn tượng đối với du khách ở làng cổ Đông Hòa Hiệp là nhà cổ ông Ba Đức theo kiến trúc Đông Tây kết hợp. Nhà được xây dựng năm 1850 giữa khu vườn rộng hơn 2ha với nhãn, vú sữa, bưởi, cam quýt… xum xuê tạo nên cảnh chân quê mộc mạc nhưng không kém phần nên thơ, lãng mạn. Nếu như mặt tiền của ngôi nhà theo kiểu Pháp với những hàng cột tròn, mái vòm uốn cong thì bên trong nội thất lại là một không gian kiến trúc thuần Việt. Hiện trong nhà vẫn còn lưu giữ được nhiều vật dụng quý và đẹp, cho thấy một thú chơi phong lưu, tao nhã của những gia đình giàu có ở Nam bộ xưa. Gian chính của ngôi nhà có một bộ bàn ghế cổ bằng danh mộc cẩm lai được chế tác tinh xảo. Hai gian phụ có hai tủ thờ cổ chạm trổ xà cừ. Các cặp liễn, hoành phi, bao lam, diềm cửa đều được chạm khắc hoa văn tinh xảo. Những kỷ vật của chủ nhân còn lưu lại như đàn nguyệt, tranh kiếng, đèn dầu lửa, lư đỉnh, chuông mõ, bàn tròn rải rác trong nhà khiến du khách như bước vào không gian của thời xa xưa. Nhà cổ ông Ba Đức còn là điểm du lịch homestay thu hút đông du khách quốc tế. Vào những dịp lễ, Tết hoặc khi khách có yêu cầu, sẽ có những nhóm đờn ca tài tử phục vụ. Du khách sẽ được thưởng thức chương trình văn nghệ đặc sắc với dàn diễn viên, nhạc công là những người dân địa phương. Nhà cổ của ông Ba Đức trung bình mỗi ngày đón gần 100 lượt khách, ngày cao điểm có khi lên tới 500 lượt.
Trong cụm nhà cổ ở Đông Hòa Hiệp còn có nhà cổ của ông Trần Tuấn Kiệt được xây dựng năm 1838 với diện tích gần 1.000m². Nhà có kiến trúc và kết cấu theo kiểu nhà vườn truyền thống mang dấu ấn làng cổ ở đồng bằng Bắc Bộ đã có biến dị, với kiến trúc kiểu chữ Đinh, gồm 5 gian, 3 chái. Ngôi nhà này còn lưu giữ nhiều cổ vật quý: bộ liễn đối khảm xà cừ, bộ bàn ghế với các hoa văn chạm trổ tinh tế, vật dụng bằng gốm sứ Tàu (thời nhà Thanh). Các xà, xiên, kèo, đố, diềm cửa, bao lam… bằng danh mộc (gõ sừng) có chạm khắc các hoa văn thanh thoát: trúc, mai, đào, lan, tùng, bách… Đặc biệt trong nhà còn có 108 cây cột bằng gỗ căm xe núi, được các nhà khảo cổ Nhật Bản đánh giá cao và xếp vô nhóm "cửu đại mỹ gia" ở Việt Nam. Nhà cổ của ông Kiệt trung bình mỗi ngày đón 100 khách đến tham quan.
Chính quyền địa phương, hằng năm, làng cổ Đông Hòa Hiệp có hơn 100.000 lượt du khách đến tham quan kiến trúc các ngôi nhà cổ, khám phá những vườn cây ăn trái, tìm hiểu các nghề truyền thống, lênh đênh trên chợ nổi Cái Bè.../. 

Bãi đá cổ – Điểm du lịch hấp dẫn ở Sa Pa

Bãi chạm khắc đá cổ là một trong những điểm đến còn nguyên nét hoang sơ của Sa Pa, đây là điểm du lịch dự kiến sẽ thu hút hàng nghìn du khách dịp kỷ niệm 110 năm du lịch Sa Pa được tổ chức vào cuối tháng 10 đầu tháng 11/2013.

Sa Pa, Lào Cai không chỉ được biết đến là một khu du lịch nghỉ dưỡng với khí hậu độc đáo, phong cảnh tươi đẹp, mà còn là không gian lưu giữ những nét văn hóa cổ xưa chưa được khám phá, đầy hoang sơ và bí ẩn.

Cách trung tâm thị trấn Sa Pa khoảng 7km về hướng Đông Nam, bãi chạm khắc đá cổ nằm trong thung lũng Mường Hoa, xen lẫn giữa những thửa ruộng bậc thang của đồng bào các dân tộc thiểu số hai xã Hầu Thào và Tả Van.
Khu đá cổ có tổng cộng trên 200 tảng đá lớn nhỏ, với những hình chạm khắc khác nhau như: những vạch song song, hình vuông, hình chữ nhật, hình người, hình ruộng bậc thang, nhà sàn và kể cả dấu vết của chữ viết…
 
Tuy những nét chạm khắc vẫn hết sức đơn giản, nhưng việc giải mã chúng lại đang thực sự là thử thách đối với các nhà nghiên cứu. Người ta mới chỉ hình dung rằng, mỗi phiến đá đều lưu giữ một câu chuyện về đời sống, sinh hoạt, văn hóa của người cổ xưa và cả thế giới tự nhiên quanh họ. Tháng 10/1994, bãi chạm khắc đá cổ Sa Pa đã được Bộ VH,TT&DL công nhận là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia. Khu di tích đã được chú trọng bảo tồn và xây dựng, trở thành một điểm thăm quan thú vị đối với du khách trong nước và quốc tế.
 
 Vết khắc trên các hòn đá tại bãi đá cổ Sa Pa. 
Người dân bản địa vẫn quen gọi quần thể bãi đá cổ Sa Pa là “thư viện trời”. Đối với các nhà nghiên cứu, đây là một kho báu văn hóa cổ hiếm có, cần được giữ gìn và giải mã. Trong dịp kỷ niệm 110 năm du lịch Sa Pa, dự kiến số lượng khách du lịch đến thăm quan, khám phá bãi đá cổ sẽ tăng đột biến. Do đó, ban quản lý di tích huyện Sa Pa - đơn vị trực tiếp quản lý di tích đã có sự chuẩn bị cần thiết, nhằm đảm bảo đón tiếp du khách một cách chu đáo nhất, đồng thời tránh những tác động tiêu cực tới di sản văn hóa này.

Khu du lịch Sa Pa đã trải qua 110 năm hình thành và phát triển, song Sa Pa vẫn hàm chứa không ít những điều bí ẩn, những nét hoang sơ, mà bãi đá cổ này là 1 minh chứng điển hình. Chính điều này, cùng với sự độc đáo của tự nhiên và nét đẹp văn hóa tộc người đã tạo nên sức hút mãnh liệt của Sa Pa đối với du khách trong nước và quốc tế./.

Thác Bay (Đắk Lắk) - Vẻ đẹp hoang sơ giữa đại ngàn


Thác Bay là một thác nước đẹp ở xã Ea Sô, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk. Đây là một thắng cảnh đẹp, hoang sơ giữa núi rừng của Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, nằm cách trụ sở Ban quản lý khu bảo tồn khoảng 15 km, thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn.

Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô được thành lập tháng 7 năm 1999 với tổng diện tích tự nhiên là 27.800 ha, chia làm ba khu: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt rộng 15.959ha; phân khu phục hồi sinh thái 9.816 ha và phân khu dịch vụ hành chính 2.025 ha.

Theo số liệu thống kê thì khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô có tất cả 709 loài với 139 họ, thuộc các ngành như: thông, dương xỉ và ngọc lan; hệ động vật có 44 loài thú, 158 loài chim, 23 loài bò sát, 7 loài ếch nhái, trong đó có những loài chim, thú đặc biệt quý hiếm như: beo lúa, voi, cheo, bò tót, gấu chó, gấu ngựa, sóc đỏ, vượn đen, khỉ mặt đỏ, gà lôi trắng…

Trong số loài động vật sống ở khu bảo tồn có 22 loài quý hiếm được ghi tên trong Sách Đỏ của Việt Nam và thế giới. Ngoài động thực vật quí hiếm, khu bảo tồn còn là khu rừng sinh thái đẹp với dòng thác âm thầm chảy từ bao đời nay.

Thác được hình thành trên một dòng suối nhỏ hiền hòa trong mùa khô nhưng hung dữ vào mùa mưa, nằm hoang sơ giữa những cây rừng thuộc họ có rễ phụ đan kín trông rất lạ mắt.

Thác với cột nước đổ trên cao khoảng 20 m đổ xuống một mặt hồ rộng và sâu, tung bọt trắng xóa rồi trở về lại với dòng chảy hiền hòa, uốn lượn giữa đại ngàn Ea Sô xanh thẳm.

So với các thác nước khác của Đắk Lắk như thác Gia Long, thác Krông Kmar..., thác Bay ít được mọi người biết đến do không thuận tiện về đường đi lại và nằm trong khu Bảo tồn nên việc khai thác du lịch còn đang rất hạn chế.

Vậy nhưng đây lại chính là điểm mạnh của thác Bay vì đến với thác này, du khách sẽ được thưởng ngoạn một thắng cảnh hoàn toàn còn hoang dã và được trở về với thiên nhiên thật trọn vẹn./.
 

Cổ kính chùa Âng – Trà Vinh


Trong hệ thống 141 ngôi chùa Khmer trên đất Trà Vinh, chùa Âng (tiếng Khmer là Angkorajaborey), được xem là ngôi chùa cổ kính nhất, độc đáo nhất và có lẽ đẹp nhất, với những giá trị nghệ thuật, văn hóa, điêu khắc và tôn giáo còn lại ở đây. Vì thế, đến với đất Trà Vinh thì không thể không đến với chùa Âng một lần.

Nằm cách trung tâm thành phố Trà Vinh khoảng 7km, chỉ một cuốc xe ôm hoặc một chuyến taxi ngắn là tới chùa Âng, nằm trong khuôn viên rộng khoảng 4ha với không gian êm đềm, cổ kính và thơ mộng.
Theo truyền thuyết, chùa Âng được xây dựng lần đầu tiên vào khoảng năm 990, cuối thế kỷ 10, nhưng thông tin này đến nay vẫn chưa xác định rõ thực hư. Nhưng nếu tính từ đời vị trụ trì đầu tiên, cũng như theo nhiều sách sử còn lưu lại, chùa Âng có khả năng được xây dựng bằng tre lá từ năm 1695, đến năm 1842 thì được dựng lại bằng gỗ quý. Sau đó còn được xây dựng, sữa chữa, trùng tu vài lần cho đến ngày nay.
Chùa Âng được xây dựng hoàn toàn theo phong cách chùa Khmer Nam Bộ, xung quanh có hào nước sâu bao bọc. Cổng chùa là ba ngọn tháp cao có đắp biểu tượng con chằn. Phía trước chính điện là 6 cây cột cao, chạm khắc nhiều hình tiên nữ, chim thần vô cùng sống động. Mái chùa khá đặc biệt, lợp ngói, chia thành 3 tầng, được chống đỡ bằng 12 cột gỗ quý. Mái trên cùng rất dốc và cao hơn hai mái còn lại, các chóp mái cong vút và vươn cao, tạo nên sự hài hòa vô tận giữa con người, tôn giáo và thiên nhiên bao la. Các gò mái có thần rắn Naga đuôi cong vút, tượng trưng cho sự dũng mãnh vĩnh cửu. Xung quanh còn có những cột trụ, hàng rào với đầu thần Bayon bốn mặt.
Cửa chính của chùa mở về hướng Đông, thêm cửa hậu mở về hướng Tây, dẫn vào chính điện trên một nền đất đắp cao khoảng 2m. Giữa trang chính điện là bệ thờ theo phái Phật giáo Nam Tông, chỉ thờ Phật Thích Ca với tượng Phật chính cao 2,1m, nét mặt hiền từ. Xung quanh còn có khoảng 50 tượng Phật lớn nhỏ tạc bằng đá hoặc gỗ, bức tượng nào cũng có thần thái hết sức sinh động, là những tác phẩm nghệ thuật có giá trị cao. Các bức tường quanh chính điện là những bức tranh vẽ, kể về cuộc đời Đức Phật Thích ca. Đặc biệt, trên trần của chính điện là bốn bức bích họa lớn, mô tả bốn giai đoạn trong cuộc đời Đức Phật: Đản sanh, xuất gia, đắc đạo và nhập niết bàn.
Có thể nói, chùa Âng không chỉ là một ngôi chùa, còn là một trung tâm văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo, giáo dục quan trọng, là nơi bảo tồn, gìn giữ, và phổ biến những kinh điển, giáo lý, sách báo, các tác phẩm văn học nghệ thuật quan trọng của người dân trong vùng cũng như của khách thập phương. Những bức tượng, bích họa, điêu khắc trang trí trong chùa chính là những công trình kiến trúc - mỹ thuật và nghệ thuật độc đáo, tiêu biểu.
Ngoài ra, chùa Âng còn là một trung tâm văn hóa - giáo dục quan trọng, là nơi dạy chữ Khmer cho trẻ em và sư sãi trong vùng, là ngôi trường mà các thanh niên Khmer đến tu học.
Đến thăm chùa Âng, chiêm ngưỡng những giá trị kiến trúc, nghệ thuật độc đáo, lắng nghe tiếng kinh kệ thanh bình, vui với tiếng ê a đọc chữ của trẻ em, thư thái tản bộ quanh chùa để cảm nhận thiên nhiên và cuộc sống đang hòa quyện vào nhau...là những cảm xúc khó quên./.

Đến Thanh Hóa thăm lăng mộ vua Lê Thái Tổ

Lăng vua Lê Thái Tổ là một quần thể di tích đặc biệt lưu giữ dấu ấn quan trọng về đức Vua - người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đập tan quân xâm lược nhà Minh và lập ra triều đại nhà Lê Sơ thịnh trị bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

Nằm cách sân bay Thọ Xuân không xa, lăng vua Lê Thái Tổ (hay còn gọi là Vĩnh Lăng) thuộc quần thể di tích Lam Kinh, nằm trên địa bàn xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

Kiến trúc đơn giản và tôn nghiêm

Ngược dòng lịch sử các triều đại phong kiến, trong bất cứ hoàn cảnh nào, khi đất nước thái bình thịnh trị hoặc chiến tranh xảy ra thì việc xây dựng lăng mộ của các vị Vua luôn là vấn đề quan trọng đối với triều đại bởi vì ngoài chức năng là một nơi an nghỉ vĩnh hằng của các vị hoàng đế thì nó còn thể hiện sự tôn nghiêm của bậc quân vương và sự hưng thịnh của vương triều.

Do vậy, các bậc vua chúa đều chú trọng xây dựng lăng mộ cho mình ngay khi vừa mới lên ngôi với quy mô rất tráng lệ, uy nghi, lộng lẫy. Tuy nhiên, đối với vua Lê Thái Tổ, một vị Vua xuất thân áo vải thì lăng mộ hết sức giản dị.

Về bố cục, điều đặc biệt nhất của Vĩnh Lăng là không xây thành lăng mộ giống như các lăng tẩm của vua chúa khác mà được xây dựng thành hình gần vuông, mỗi cạnh là 4,43m x 4,46m, cao 1m, xây bằng gạch vồn xếp khít mạch và không trát. Phía mặt trên lăng để cỏ mọc chứ không lợp thành mái. Phía trước của lăng, hai bên có quan hầu và bốn đôi tượng giống đối nhau. Theo thứ tự tính từ mộ ra, bên trái quan văn, bên phải quan võ, đến tượng nghê, ngựa, tê giác và hổ. Về hình thức, các bức tượng đều bằng đá và được chạm khắc mềm mại, đơn giản. Đến năm 1933, nhân dân địa phương cung tiến thêm 4 voi chầu đắp bằng gạch và vôi vữa.

Hòa hợp với thiên nhiên

Địa thế Vĩnh Lăng được xây dựng ngay phía sau cung điện Lam Kinh, trên một vùng đất rộng và cao ráo giống như hình mai rùa, phía trước có núi Chúa, phía sau có núi Dầu, hai bên đều có núi, đối diện có sông. Xung quanh lăng mộ là những loại cây cổ thụ có hàng trăm năm tuổi như sưa, đa, lim, đại, bồ đề, ổi…

Bố cục độc đáo, riêng có của Vĩnh Lăng thể hiện sự khiêm nhường, giản dị và hòa hợp với thiên nhiên của Hoàng đế Lê Thái Tổ. Đồng thời, dù rất đơn giản nhưng lại tôn nghiêm, tự nhiên và trang trọng.

Hiện tại, kiến trúc Vĩnh Lăng vẫn giữ được chọn vẹn vẻ đẹp cổ kính và nguyên bản. Quần thể Di tích Lam Kinh, trong đó có Vĩnh Lăng đã được công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 1962. Năm 2012, khu Di tích này tiếp tục được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt.

Đến thăm Vĩnh Lăng, chúng ta không khỏi bất ngờ bởi sự độc đáo trong kiến trúc lăng mộ mà quan trọng hơn, chúng ta thêm hiểu và khâm phục đức tính khiêm nhường, giản dị của một bậc đế vương, một vĩ nhân từng lập nên nhiều chiến công lừng lẫy trong lịch sử như Lê Lợi. Đó cũng chính là những bài học quý giá cho hậu thế noi theo. /.

Đình Kiền Bái, vẻ đẹp xưa trên đất Hải Phòng

Nằm ở xóm Đông, xã Kiền Bái, huyện Thủy Nguyên, đình Kiền Bái là công trình kiến trúc - điêu khắc cổ kính và nổi tiếng của Hải Phòng. Di tích này có từ thế kỷ XVII - thế kỷ phát triển rực rỡ của nghệ thuật dân gian.

Đình Kiền Bái có quy mô vừa phải nhưng được làm hoàn toàn bằng gỗ lim, có cấu trúc hình chữ “đinh” quen thuộc và là ngôi đình duy nhất ở Hải Phòng còn giữ được hệ thống ván sàn thời khởi dựng.

Đình ngoài hay còn gọi là tiền đường gồm ba gian, gian giữa là nơi tiến hành các nghi lễ tế tự. Đình trong (hậu cung) gồm ba gian chuôi vồ là nơi an tọa của Đức Thành Hoàng bản thổ.

Đình Kiền Bái có sức hấp dẫn du khách thập phương, các nhà nghiên cứu không chỉ ở giá trị lịch sử mà còn do nghệ thuật trang trí kiến trúc tài hoa và phóng khoáng của người xưa. Cả công trình này là một bộ sưu tập tranh điêu khắc gỗ quý giá được tạo tác trên nền của một kiến trúc cổ kính và tao nhã.

Nghệ thuật trang trí ở đình Kiền Bái chủ yếu được tập trung thể hiện trên các vị trí có điều kiệu phô diễn được vẻ đẹp của mình. Rồng là đề tài phổ biến và có mật độ khá dày đặc trong các hoạt cảnh trang trí.

Ở mỗi mảng chạm khắc dù là chạm nổi hay chạm lộng hay chạm bong kênh, bong hình thì giữa trung tâm bao giờ cũng là một rồng lớn (rồng mẹ) có thân mập, ngắn lượn từ dưới lên, đầu ngóc cao, mặt quay ra ngoài.

Rồng có đầu to, trán dô, miệng há rộng, mũi sư tử và tóc là các cụm đao lửa hình mũi mác bay về sau tạo cảm giác động trong không gian tĩnh.

Thân rồng tròn lẳn phủ một lớp vảy rắn nổi, chân có bốn móng sắc nhọn như cựa gà chọi. Chung quanh rồng mẹ dù đang vuốt râu hay hí thủy, có rất nhiều rồng con trong một tổng số lẻ như: 5, 7, 9, 11 và 13.

Đi kèm với rồng là những con vật trong hàng tứ linh như phượng, lân. Phượng thường được thể hiện trong tư thế trình diễn nghệ thuật “gia truyền” với những động tác múa uyển chuyển và kiêu sa.

Con rồng không chỉ được thể hiện cùng đồng loại hay các bậc tứ linh mà nó còn hòa mình với các con thú khác không phải là con vật “linh” ở trên các vì cốn hay mặt ngoài các ván bưng. Đó là những con thú “tầm thường” nhưng rất đỗi thân quen với làng quê và con người Việt Nam, như lợn, chó, dê, nai, mèo, cá... nhiều nhất vẫn là lợn.

Lợn có thân hình mập mạp như trong tranh Đông Hồ nhưng lại nghịch ngợm như các chú lợn rừng hoang dã. Lợn ngồi trên lưng nắm râu, cầm tóc và còn cả gan gặm chặt lấy đuôi rồng.

Du khách đã quen với các cảnh “lưỡng long chầu nguyệt”, “lưỡng long tranh châu”... nhưng “lưỡng long chầu lợn” và “rồng chầu người” chắc chỉ ở đình Kiền Bái mới có. Ngoài ra, đình còn có những tiểu cảnh đậm vẻ làng quê yên bình như lợn ăn lá dáy, mèo ngủ ngày, người cưỡi voi, ngựa voi âu yếm, voi chiến đua tài...

Lễ hội một thời vang bóng

Thời xưa, đình Kiền Bái cũng được biết đến là nơi có nhiều lễ hội lớn. Trong đó, lễ hội cướp bông được tổ chức vào ngày 12 tháng Giêng hằng năm là lễ hội “vui nhất, hoành tráng nhất, quyết liệt nhất” theo lời của các cụ cao niên.

Để chuẩn bị cho lễ hội cướp bông, làng cần hai cây tre to, cao nhất. Nhà nào có tre được chọn thì nhà đó phải đem bánh chưng, bánh dày ra tế. Sau khi hạ tre, các cụ chọn mười thanh niên chưa vợ tuổi từ 18 tuổi lên chặt hai khúc tre để vót hai cây bông hình hoa ở đầu.

Trước lễ cướp chính thức có lễ cướp cờ, cụ chủ trì lễ vừa tung cây bông lên trời, lập tức mười thanh niên trong trang phục quần đỏ, áo đỏ, thắt lưng xanh, chít khăn điều xông vào cướp trong tiếng hò reo, cổ vũ của dân làng. Đây mới chỉ là lễ cướp thử nên không có giải, lễ cướp mang tính tượng trưng ước lệ trước cửa sân đình.

Khác với lễ cướp thử, cướp giải thật thu hút rất đông người từ già tới trẻ, không kể là trai hay gái, thậm chí đàn bà có con mọn cũng được tham gia. Cuộc thi này rất đông vui, kéo dài đến sáng hôm sau.

Đồng thời với lễ hội cướp bông, thì tại đình cũng diễn ra nhiều hội thi khác thu hút đông người như hát đúm, thi làm làm cỗ bánh... Ai được giải trong cuộc thi cướp bông thì làng ưu tiên mời ăn bánh của người đạt giải nhất cuộc thi làm cỗ bánh. Hai người đoạt giải nhất của hai cuộc thi nêu trên nếu chưa vợ, chưa chồng, thì dân làng vun vén cho thành vợ, thành chồng.

Người được giải cướp bông còn được dân làng tôn vinh vì họ đã được diễm phúc của thần ban tặng. Lễ cướp bông được cho là bắt nguồn từ thời xa xưa, từ tục thờ sinh thực khí của nam giới được cải tiến và phát triển lên mà thành. Ai cướp được cây bông thì cả nhà khỏe mạnh, con cháu đông vui, làm ăn khấm khá suốt cả năm./.

Thăm chùa Linh Ứng trên đỉnh Bà Nà, Đà Nẵng

Nằm trên đỉnh Bà Nà thuộc Khu du lịch sinh thái Bà Nà với độ cao gần 1.500m, chùa Linh Ứng được khánh thành năm 2004. Kiến trúc chùa gần giống với kiến trúc của chùa Tam Thai, cả khoảng sân rộng được lót bằng đá. Phía trước chùa có một cây thông rất đặc biệt với 3 loại lá khác nhau.
Chùa Linh Ứng (Ảnh: Banahills)
Đặc biệt, chùa có một bức tượng Đức Bổn Sư uy nghi, cao 27m màu trắng. Từ thành phố Đà Nẵng, vào những ngày nắng ráo, bạn có thể nhìn thấy bức tượng trắng muốt này nổi bật trên cái nền xanh của khu du lịch nổi tiếng Bà Nà - Núi Chúa. 

Chùa thuộc hệ phái Bắc Tông. Về kiến trúc và thờ tự, chùa Linh Ứng Bà Nà được thực hiện giống Chùa Linh Ứng Ngũ Hành Sơn và cùng một sư trụ trì. Thượng tọa Thích Thiện Nguyện, trụ trì Chùa Linh Ứng Ngũ Hành Sơn, đã tổ chức trọng thể lễ đặt đá xây dựng chùa Linh Ứng Bà Nà và Thích Ca Phật đài.

Cảm giác mệt mỏi dường như sẽ tan biến khi du khách được chiêm ngưỡng tượng Phật Thích Ca tạo thiền thuộc vào hàng lớn nhất châu Á. Xây dựng trên núi cao, chùa Linh Ứng vô cùng linh thiêng, những nét kiến trúc tinh tế của chùa làm cho không khí thiền môn thêm thanh tịnh, lòng người vãn cảnh chùa thêm thanh tao, thư thái.

Hang Sơn Đoòng - Chốn thần tiên ẩn mình trong lòng núi

Nằm im lìm trong vùng núi hẻo lánh của miền Trung Việt Nam, suốt hàng triệu năm qua, hang Sơn Đoòng, hang động tự nhiên lớn nhất thế giới, sau khi được phát hiện vào năm 2009, đã kích thích trí tò mò của du khách khắp nơi trên thế giới đến khám phá và thưởng ngoạn.

Hang Sơn Đoòng - nơi đang giữ kỷ lục là hang lớn nhất thế giới cho đến nay, với chiều rộng hơn 200m, chiều cao trung bình 150m và độ dài khoảng 9km. Vẻ đẹp hùng vĩ cũng như những giá trị thiên nhiên vô giá của chốn thần tiên ẩn mình dưới vùng núi đá vôi lớn bậc nhất thế giới này cũng còn nhiều điều bí ẩn chưa được khám phá.
Bất kỳ ai có cơ hội được vào bên trong hang Sơn Đoòng và đi hết chiều dài của hang đều bị choáng ngợp trước vẻ đẹp kỳ vĩ, nguyên sơ của hang động lớn bậc nhất thế giới này. Ngoài hệ thống thạch nhũ khổng lồ và độc đáo, trong lòng hang còn có cả một khu rừng nguyên sinh với những thân cây mảnh và cao vút. Và cũng không phải quá thậm xưng khi người ta đã đặt tên cho rừng cây ấy là “Vườn địa đàng”.
Tuy nhiên, con đường dẫn đến “Vườn địa đàng” này lại không trải hoa hồng như trong truyện cổ tích. Để đến được cửa hang Sơn Đoòng, bạn phải vượt qua khoảng 10km đường rừng men theo những con sông con suối, với rất nhiều vách đá cheo leo nguy hiểm và thường mất trọn 1 ngày để đi. Lên được đến cửa hang, hành trình mới thực sự bắt đầu.
Ông Howard Limbert - Người khám phá ra hang Sơn Đoòng năm 2009 cho biết: “Lên đến cửa hang, bạn phải tiếp tục trèo xuống một vách đá dựng đứng cao đến 80m. Và sau đó bạn sẽ gặp một con sông rất lớn. Ở đây, nước chảy xiết và sâu nên bạn có thể bị cuốn đi bất cứ lúc nào. Bạn phải dùng dây thừng cột chặt vào vách đá để cho từng người đi qua. Bạn bắt buộc phải đi qua sông 2 lần thì mới đi tiếp được. Vào mùa lũ, nước sông dâng cao đến 50m, rất nguy hiểm, không có cách nào có thể đi được”.
Khi đã vào được bên trong lòng hang, bạn sẽ lần lượt đi qua rất nhiều địa danh mà đoàn thám hiểm của ông Howard Limbert đã đặt những cái tên rất ngộ nghĩnh như “Bàn tay chú cẩu”,  “Cẩn thận với khủng long”, “Những tảng đá nực cười”, hay “Vườn địa đàng”. Với các nhà khoa học, đây chính là thiên đường thực sự cho việc nghiên cứu.
Ông Đinh Huy Trí - Giám đốc TT khoa học di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng nói: “Cách mặt đất gần 100m mà có một khu rừng như thế chứng tỏ sức sống của thực vật vùng nhiệt đới rất mãnh liệt. Điều quan trọng nhất là những loài cây gỗ trong đấy đều cố gắng vươn rất cao để thu nhận được ánh sáng mặt trời. Còn các loài thân thảo khác mọc rất phổ biến và hầu như có tính tương đồng về loài”.
Mới đây, UBND tỉnh Quảng Bình đã cho phép khai thác thử nghiệm du lịch mạo hiểm vào hang Sơn Đoòng nhưng với số lượng hạn chế trong từng năm. Một chuyến đi tiêu chuẩn kéo dài 7 ngày 6 đêm với số lượng khoảng 10 khách. Nếu số người đặt tour không hủy bỏ thì tính đến năm 2016 đã kín hết chỗ cho du khách muốn thám hiểm Sơn Đoòng - hang lớn nhất thế giới.

Du lịch văn hóa tiêu biểu ở Hà Nam

Chùa Long Đọi Sơn nằm trên núi Đọi Sơn thuộc xã Đọi Sơn huyện Duy Tiên, cách Phủ Lý khoảng 8 km về phía Bắc. Chùa Đọi được xây dựng vào năm 1054 và được trùng tu năm 1118-1121. Đây là ngôi chùa cổ có nhiều nét văn hoá nghệ thuật kiến trúc tinh xảo, mang đậm dấu ấn qua các thời kỳ lịch sử. Hàng năm vào ngày 21/3 âm lịch chùa Đọi Sơn mở hội. Với vị trí địa lý thuận lợi, phong cảnh thiên nhiên đẹp, nơi đây sẽ là một điểm du lịch khá hấp dẫn.

Đền Lảnh Giang: Nằm gần bờ sông Hồng thuộc xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên, cạnh quốc lộ 38 đi cầu Yên Lệnh. Đền Lảnh Giang còn có tên gọi là Lảnh Giang linh từ, đền tọa lạc trong khuôn viên 3.000m2, nơi đây không có núi đồi, nhưng bạt ngàn màu xanh của cây trái. Cửa đền nhìn ra hướng đông dòng sông Nhị Hà (sông Hồng), bốn mùa mênh mang sóng nước.
Kề bên đền Lảnh Giang về phía bờ sông là ngôi đền thờ Cô Bơ Thoải Phủ. Đền thờ Tam vị Đại Vương thời Hùng - Duệ - Vương có công đánh Thục và thờ Tiên Dung công chúa, một trong Tứ Bất Tử của Việt Nam.
Mỗi năm có 2 kỳ lễ hội vào tháng 6 và tháng 8 âm lịch. Kỳ hội tháng 6 diễn ra từ ngày 18 đến  ngày 25, kỳ hội tháng 8 được tổ chức vào ngày 20 âm lịch. Hiện rất đông khách thập phương từ các nơi kể cả Hà Nội, Hưng Yên… đến lễ và tham quan đền Lảnh. Nếu tuyến du lịch Sông Hồng của Hà Nội được mở rộng, đây sẽ là một trong những điểm du lịch tín ngưỡng có khả năng thu hút khách cao.
Đền Trần Thương: Thuộc thôn Trần Thương, xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân. Tương truyền nơi đây là kho lương của Nhà Trần và là nơi diễn ra các cuộc giao tranh ác liệt trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên thế kỷ 13. Đền thờ Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. 
Đền được khởi xây vào năm 1783 với kiến trúc mang đậm nét cổ truyền dân tộc. Lễ hội hàng năm được tổ chức từ ngày 1 đến 20 tháng 8 (âm lịch) cùng với lễ hội đền Kiếp bạc ( Hải Dương), lễ hội đền Bảo Lộc (Nam Định) để tưởng nhớ người anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo. Hiện nay khu di tích đang được tiến hành quy hoạch lập dự án đầu tư xây dựng thành một điểm du lịch văn hoá tín ngưỡng trên tuyến du lịch sông Hồng.
Quế Sơn: Còn gọi là núi An Lão, núi Nguyệt Hằng ở thôn An Lão (Bình Lục) nơi có ngôi chùa tương truyền được xây dựng vào thời Lý, nơi phát hiện trống đồng Đông Sơn loại  Hêgơ, đồng thời là một thắng cảnh nằm bên bờ sông Ninh.
Ngọc Lũ: Là một trong những xã thuộc huyện Bình Lục, nơi đầu tiên người Pháp phát hiện trống đồng mang tên Ngọc Lũ.
Bát cảnh sơn: Tám cảnh ở vùng núi xã Tượng Lĩnh (Kim Bảng) đã từng là nơi chúa Trịnh Sâm cho lập hành cung và được chúa ví với 8 cảnh đẹp nổi tiếng ở Tiêu Tường (Vân Nam, Trung Quốc), như: Đền Tiên Ông thờ Nam thiên đại thành hoàng Thánh tổ Thiên vương Bồ Tát, nằm trong quần thể di tích thắng cảnh Bát cảnh sơn ở xã Tượng Lĩnh, huyện Kim Bảng, Hà Nam. Đền Tiên Ông được xây dựng vào đời vua Trần Nhân Tông, nằm trên lưng chừng núi Tượng Lĩnh, cao khoảng 200m giống hình con voi phủ phục. Cứ đến ngày rằm tháng 6 hàng năm, nhân dân ở đây tổ chức lễ hội rất long trọng, khách thập phương ở nhiều nơi cùng về tham dự...
Đền Trúc: Thuộc thôn Quyển Sơn, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng. Đền thờ vị danh tướng Lý Thường Kiệt để tưởng nhớ Người cùng đoàn quân nghỉ tại đây khi Người dẫn quân đi chinh phạt Chiêm Thành cách đây hơn 900 năm. Hàng năm đền mở hội từ 1/1 - 1/2 âm lịch. Đây là một lễ hội tiêu biểu, ngoài phần lễ, phần hội được tổ chức rất phong phú, còn có múa hát Dặm Quyển Sơn - một làn điệu dân ca nổi tiếng của Hà Nam.
Chùa Bà Đanh: Thuộc thôn Đanh Xá, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng. Chùa nằm ngay ven bờ sông Đáy, cạnh núi Ngọc, có kiến trúc độc đáo và nhiều những di vật quý đầy chất nghệ thuật dân gian. Đây là ngôi chùa đẹp cổ kính, thâm nghiêm, với cảnh quan “sơn thuỷ hữu tình”, thanh tịnh, cô quạnh và linh thiêng. Chùa bà Đanh, núi Ngọc nằm trong quần thể khu du lịch Ngũ Động Thi Sơn.
Đền Vũ Điện: Còn gọi là đền Bà Vũ, miếu vợ chàng Trương, thuộc thôn Vũ Điện, xã Chân Lý, huyện Lý Nhân. Nói đến vợ chàng Trương, chắc hẳn ai cũng nhớ đến người con gái phủ Nam Xang đã sớm được chép vào sách Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ.
Theo truyền thuyết của người dân địa phương thì ngôi đền này được xây dựng từ thế kỷ XV, ngay sau cái chết oan uổng của bà Vũ. Ngôi đền linh thiêng với câu chuyện thương tâm của bà Vũ đã từng là đề tài cho biết bao thi nhân như Lê Thánh Tông, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến… Những lời thơ của các thi nhân đã nói hộ lòng thương tiếc, ước muốn giải oan cho người phụ nữ chịu nhiều đau khổ, mối đồng cảm sâu sắc của người đời đối với nỗi oan trái hãy còn dằng dặc ở trên đời và lòng ngưỡng mộ đối với một tấm gương trinh liệt. Phải chăng vì thế mà ngôi đền thờ bà đã và vẫn sẽ còn có sức thu hút mối quan tâm của nhiều vãn khách xa gần.
Đền Lăng: Còn được gọi là đền Ninh Thái. Đền ở xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm, Hà Nam. Đền Lăng thờ vua Đinh, vua Lê và Tam vị đại vương. Ngoài ra Đền Lăng còn thờ Lê Đại Hành cùng hai con của ông là Lê Trung Tông và Lê Ngọa Triều. Đến đền Lăng, du khách được am hiểu về kiến trúc của đền cũng như các đồ thờ tự thời Nguyễn, những sản phẩm văn hoá thời hậu Lê rất quý hiếm.
Đình đá Tiên Phong: Thuộc thôn  An Mông, xã Tiên Phong, huyện Duy Tiên, Hà Nam. Đình thờ Nguyệt Nga công chúa, nữ tướng của Hai Bà Trưng. Đình đá Tiên Phong là một trong số không nhiều ngôi đình được làm bằng đá còn giữ được đến ngày nay. Khách du lịch đến tham quan được chiêm ngưỡng những mảng chạm khắc nghệ thuật công phu, tạo cho đình vẻ mềm mại, sự sống động, hấp dẫn mà không có cảm giác nặng nề của những khối đá.
Đình An Hòa: Ở xã Thanh Hòa, huyện Thanh Liêm, Hà Nam. Từ thị xã Phủ Lý đi 3km tới dốc Đọ, rẽ tay trái 2km vào đường liên xã, đến thôn An Hòa rẽ phải 300m là đến di tích. Đình An Hòa thờ hoàng tử Linh Lang và phò mã Kiều Đức Mậu thời Lý. Đình An Hòa được xây dựng trên khu đất rộng, mặt trước đình có hồ rộng, hệ thống cột đồng trụ, tường bao. Điều đặc biệt khi du khách đến đây là được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của các mảng chạm khắc không chỉ phong phú về nội dung, đa dạng về đề tài mà còn được thể hiện bằng những tay nghề điêu luyện làm cho những mảng trang trí ở đây có hồn, sống được cùng thời gian.
Khu di tích văn hoá lịch sử: Từ đường Nguyễn Khuyến thuộc thôn An Đổ, xã Trung Lương, huyện Bình Lục, thờ dòng họ Tam nguyên Yên đổ Nguyễn Khuyến. Đây là một điểm tham quan du lịch khá hấp dẫn. Khách tham quan được xem Cờ biểu của Vua ban cho Đệ Nhất Giáp tiến sĩ, vừa thưởng ngoạn những áng thơ bất hủ của bậc Tài Danh, vừa dạo mát ở bờ ao “ngư điếu” hoặc thả bộ trong bóng cây tĩnh mịch đặc trưng quen thuộc của làng quê cổ kính và bình dị Việt Nam./.

Di tích lịch sử Bảo Biên, Thái Nguyên

Trong những năm tháng ở ATK Định Hóa, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đặc biệt gắn bó với mảnh đất Bảo Biên, xã Bảo Linh. Đây từng là nơi ở và làm việc của Đại tướng và Cơ quan Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam giai đoạn 1949-1954. Hơn 60 năm đã đi qua, mảnh đất cách mạng xưa đã nhiều thay đổi nhưng tấm lòng thành kính của người dân với Đại tướng vẫn vẹn nguyên son sắt.

Di tích nơi ở và làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại xóm Bảo Biên, xã Bảo Linh (Định Hóa)
Nằm trên quả đồi bát úp có tên Đỏn Mỵ, nơi ở và làm việc của Đại tướng và Bộ Tổng Tư lệnh đơn sơ, giản dị như bao nếp nhà của bà con địa phương. Đây được xem là vị trí “đắc địa” bởi nó nằm giữa cánh đồng Bảo Biên và được bao bọc bởi những dãy núi trùng điệp, thể “tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ” (tiến có thể đánh, lui có thể thủ). Vị trí này vừa đảm bảo bí mật, vừa tiện đường sang xã Điềm Mặc (nơi Bác Hồ và các cơ quan Trung ương Đảng đóng quân) và xã Định Biên (nơi đặt cơ quan Bộ Tổng tham mưu, Tổng Cục chính trị Quân đội), lại tiện đường rút sang Tuyên Quang, Bắc Kạn khi có trường hợp khẩn cấp.
Ông Đồng Quang Sá, Nguyên Chủ tịch UBND Bảo Linh còn nhớ như in kỷ niệm được gặp Đại tướng năm 1992: Tôi cùng đoàn cán bộ xã về thăm nhà Đại tướng ở Hà Nội. Đại tướng không có nhà nhưng biết đoàn từ Bảo Linh về thăm, Bác đã dặn mọi người phải đón tiếp ân cần. Khi Đại tướng về đã là chiều muộn, Người đưa tiền cho trợ lý để dẫn đoàn đi ăn cơm và bố trí chỗ nghỉ lại tại nhà. Buổi làm việc sáng hôm sau, sau khi nghe báo công việc, Người đã viết một bức thư tay thăm gửi nhân dân trong xã, cùng với đó sơ đồ phác họa vị trí của Cơ quan Bộ Tổng Tư lệnh, nhà chỉ huy, lán cảnh vệ gác bảo vệ căn cứ… Trước khi về, Người căn dặn: “Khu di tích đó nên khoanh vùng lại làm vườn cây thanh niên, để sau này giáo dục truyền thống cho các thế hệ”.
Năm 1998, trong lần cuối cùng trở lại Định Hóa, Đại tướng cùng vợ là bà Đặng Bích Hà đã đến thăm lại xóm Bảo Biên. Người căn dặn chính quyền xã phải phát huy truyền thống, chăm lo đời sống cho bà con. Năm 2004, Bộ Quốc phòng đã đầu tư kinh phí phục dựng lại nhà làm việc và một số hạng mục khác, để tôn vinh và ghi dấu những sự kiện lịch sử đã diễn ra ở căn cứ Đỏn Mỵ trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
Ngày nay, địa danh đồi Đỏn Mỵ được bà con địa phương gọi bằng cái tên thân thương là “Đồi Đại tướng”, để luôn ghi nhớ vị tướng vĩ đại của dân tộc, mà rất mực gần gũi với đồng bào./.

Núi Nhìu Cồ San (Lào Cai) hấp dẫn du khách

Không nổi tiếng, hùng vĩ như Phan Xi Păng, nhưng vẻ hoang sơ, với những cánh rừng nguyên sinh, thảm thực vật phong phú, núi Nhìu Cồ San có sức hấp dẫn mạnh mẽ với du khách.

Chinh phục núi Nhìu Cồ San
Núi Nhìu Cồ San nằm trên địa phận xã Sàng Ma Sáo (Bát Xát), độ cao hơn 2.300 m so với mực nước biển. Theo tiếng địa phương, Nhìu Cồ San có nghĩa là núi Sừng Trâu. Tên này xuất phát từ việc những ngày trời nắng, không có sương mù bao phủ, đứng từ xa, có thể nhìn thấy đỉnh núi hình dáng giống như chiếc sừng trâu.
Theo những người cao tuổi trong xã Sàng Ma Sáo kể lại, cách đây gần một thế kỷ, thực dân Pháp đã đặt chân tới núi Nhìu Cồ San, họ cho xây dựng những tuyến đường mòn để vận chuyển lương thực, đạn dược sang xã Sin Suối Hồ, huyện Phong Thổ (Lai Châu). Từ trung tâm xã Sàng Ma Sáo tới nơi bắt đầu của đường mòn dẫn lên núi Nhìu Cồ San khoảng gần 10 km. Ngay khi đặt chân đến đây, bạn có thể cảm nhận được không khí mát lành, với những tán cây dập dìu. Phía xa xa, ẩn hiện trong sương là những bản làng của đồng bào dân tộc Mông, với những thảm ruộng bậc thang vàng óng vào mùa lúa chín. Đi bộ khoảng 1 km, một bãi đất bằng phẳng, rộng hàng chục ha, đang được người dân trong xã Sàng Ma Sáo cải tạo, thử nghiệm cấy trồng lúa. Đi qua bãi đất phẳng, trước mắt bạn sẽ hiện ra những cánh rừng già, có đủ các loại cây gỗ quý, hàng trăm năm tuổi, vươn mình giữa đại ngàn, hai bên đường mòn với nhiều loài hoa đua nhau khoe sắc, dưới tán cây rừng là những nương thảo quả xanh tốt. Giữa đại ngàn, những nụ cười thân thiện, cùng hương thơm tỏa ra từ gùi thảo quả của đồng bào dân tộc Mông tạo cho bạn cảm giác thật thoải mái, dễ chịu. 

Nhiều cây gỗ quý trên đỉnh Nhìu Cồ San
Anh Lê Hữu Ước, hướng dẫn viên chia sẻ: Nhìu Cồ San là một trong những ngọn núi đẹp của khu vực Tây Bắc, vẻ nguyên sơ của những tán rừng già, cùng sự mến khách của đồng bào nơi đây chắc chắn sẽ hấp dẫn du khách không chỉ một lần đến…

Thác Nà Noọc (Bắc Kạn) - Di tích danh thắng


Thác Nà Noọc (còn gọi là Thác Bạc) nằm ở chân Đèo Áng Toòng thuộc xã Xuất Hóa, thị xã Bắc Kạn, đây là thác nước tự nhiên, có chiều dài khoảng 5 km, bắt nguồn từ hai dòng suối là suối Nặm Dắt và suối Nà Khu thuộc xã Tân Sơn, huyện Chợ Mới. Toàn bộ hệ thống thác gồm 5 ngọn thác có độ cao 300 m so với mực nước biển. Vào mùa nước nhiều, thác nước trông xa như một chiếc khăn lụa trắng mềm mại mà nàng tiên nữ vì mải mê với vẻ đẹp nhân gian đã bỏ quên lại.

Khu vực thác Nà Noọc chủ yếu là rừng nguyên sinh với thảm thực vật, động vật phong phú, không chỉ có giá trị về nghiên cứu địa chất, địa mạo mà còn là một địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn bởi nơi đây có sơn thủy hữu tình với khí hậu trong lành, mát mẻ quanh năm. Cách Thác 7 km, gần Quốc lộ 3 có Đền Thác Giềng do nhân dân địa phương xây dựng, với các hoạt động văn hóa tín ngưỡng thu hút du khách đến thăm quan, nghỉ dưỡng. Bởi vậy, việc công nhận, quy hoạch, bảo tồn di tích danh lam thắng cảnh Thác Nà Noọc có ý nghĩa rất quan trọng trong việc khai thác tiềm năng du lịch, đồng thời góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường, nguồn nước./.

Hang Trinh Nữ - Truyền thuyết một tình yêu

Hang Trinh Nữ nằm trên hai cánh của một vòng cung núi nhỏ phía đông dãy đảo Bồ Hòn trên Vịnh Hạ Long, cách hang Sửng Sốt hơn 3km về phía đông nam. Giống như một số hang động trên Vịnh Hạ Long, hang Trinh Nữ gắn với một câu chuyện cảm động về tình yêu trai gái. Cho dù cái kết của nó là đau thương thì câu chuyện cũng như một lý do để giải thích về những hiện tượng thiên nhiên bí ẩn - nguồn gốc ra đời của các hang động trên Vịnh Hạ Long.
Chẳng biết từ bao giờ, dân gian kể rằng, thuở ấy - đã xa xưa lắm, trên Vịnh Hạ Long có một người con gái vạn chài rất xinh đẹp. Nhà nghèo, gia đình cô phải đi làm thuê cho tên địa chủ trong vùng. Thấy cô xinh đẹp, tên địa chủ kia ép gia đình cô gả cô làm vợ bé cho hắn. Cô gái không chịu vì cô đã có người yêu là một chàng trai nghèo chuyên làm nghề đánh cá. Chàng trai đó đang ra khơi để chắt chiu chuẩn bị cho ngày cưới của họ. Không ép nổi cô, tên địa chủ đã đày cô ra một đảo hoang. Cô gái đói lả và kiệt sức. Trong một đêm mưa gió hãi hùng, cô đã hoá đá nơi đây. Nơi cô gái hoá đá chính là hang Trinh Nữ. Ngay giữa lòng hang hiện còn bức tượng người con gái bằng đá, nằm xoã mái tóc dài, mắt hướng ra khơi xa đang mỏi mòn chờ mong người yêu trở về.

Đêm ấy, biết tin cô gặp nạn, chàng trai mải miết bơi thuyền đi tìm cô. Đến đêm, giông bão ập đến khiến thuyền của chàng trai vỡ nát, chàng dạt lên một đảo hoang. Trong ánh chớp, chàng nhìn ra phía xa và nhận ra người yêu đang vẫy gọi, nhưng những lời chàng đáp lại đã bị gió cuốn đi. Chàng trai đã dùng hòn đá đập vào vách núi báo cho nàng biết rằng chàng đã đến. Chàng gõ khi máu trên tay chảy đầm đìa, tới khi kiệt sức và chàng cũng hoá đá. Nơi chàng trai hoá đá nay là hang Trống (còn gọi là hang Con trai), cách hang Trinh Nữ khoảng 700-800m về phía đối diện. Tại cửa hang vẫn còn bức tượng chàng trai hoá đá đang quay mặt về phía hang Trinh Nữ. Những dấu tích của trận cuồng phong đêm đó như vẫn còn, đó là những đổ vỡ của đất đá ngổn ngang trong hang, tiếng gió gầm gào qua vách đá và những bọt sóng vẫn tung lên trắng xoá…
Những năm tháng chiếm đóng Vùng mỏ trước đây, khi lập bản đồ, mặc dù có không ít đảo người Pháp đặt tên theo cách của họ, nhưng với hang Trinh Nữ, họ đã tuân theo truyền thuyết của dân chài Hạ Long, đặt tên hang là La vierge (dịch ra tiếng Việt là “Hang của người con gái”). Câu chuyện tình yêu có phần liêu trai ấy đã khiến nhiều du khách tò mò muốn một lần được đến thăm hang Trinh Nữ, hang Trống, hay chí ít cũng ngắm nhìn hang khi tàu đi qua…
Bên cạnh truyền thuyết một chuyện tình, hang Trinh Nữ còn là một trong các di tích khảo cổ học trên Vịnh Hạ Long. Năm 2000, các nhà khảo cổ đã phát hiện trong hang những dấu tích của cư dân tiền sử thuộc Văn hoá Hạ Long (cách nay khoảng 4.000 năm) với những dấu tích như lớp than tro, mảnh xương động vật, mảnh gốm và di vật đá. Năm 2010, các nhà khảo cổ còn phát hiện được dấu tích của bến gốm sứ cổ ở khu vực trước cửa hang Trinh Nữ với nhiều mảnh gốm sứ, sành (chủ yếu là lon sành), vò, hũ các loại với nhiều hoa văn trang trí khắc vạnh song song hay hình sóng nước. Các mảnh vỡ bát, đĩa được xác định thuộc thời Trần (thế kỷ XIII-XIV), mảnh đồ gốm có men lam thời Lê (thế kỷ XVI-XVIII), cùng nhiều mảnh gốm sứ của các triều đại phong kiến Trung Quốc. Căn cứ vào kết quả khảo sát, các nhà khảo cổ cho rằng hang Trinh Nữ là di tích bến gốm sứ cổ trong hệ thống Thương cảng Vân Đồn xưa, cho dù đây là bến có quy mô nhỏ và không thường xuyên.
Hiện nay, hang Trinh Nữ và hang Trống nằm trong tuyến du lịch số 2 trên Vịnh Hạ Long gồm hang Sửng Sốt - Titop (hoặc Soi Sim) - động Mê Cung - hồ Động Tiên (hoặc Hang  Trống hoặc Hang Trinh Nữ hoặc hang Bồ Nâu hoặc hang Luồn). Dù biết rằng câu chuyện tình yêu đau thương trên chỉ là truyền thuyết, nhưng du khách vẫn muốn được nghe kể mỗi khi có dịp đến thăm hai hang động này./.

Khám phá những nét độc đáo của di tích Thành nhà Hồ (Thanh Hóa)

Mảnh đất Vĩnh Lộc, Thanh Hóa có một quần thể du lịch tâm linh nằm ngay trong khu vực Thành nhà Hồ và các vùng lân cận.

Đó là các quần thể như đàn tế Nam Giao, đền thờ nàng Bình Khương, đền thờ Trần Khát Chân, động Hồ Công, chùa Du Anh, quần thể di tích Phủ Trịnh-Nghè Vẹt, chùa Giáng và các ngôi nhà cổ điển hình cho lối kiến trúc, điêu khắc của cư dân đồng bằng sông Mã.

Với lợi thế này, ngành du lịch Thanh Hóa đặc biệt chú trọng gắn loại hình du lịch văn hóa với du lịch tâm linh để thu hút du khách đến với di tích tòa thành đá "độc nhất vô nhị" này.

Tỉnh Thanh Hóa đã phối hợp với UNESCO và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức tuần lễ văn hóa với chủ đề “Không gian di sản văn hóa Việt Nam-ASEAN"; phối hợp với Trung tâm bảo tồn Hoàng thành Thăng Long tổ chức trưng bày “Hoàng thành Thăng Long - Thành nhà Hồ hai di sản đặc sắc của Việt Nam," góp phần thu hút du khách đến Thành nhà Hồ nhiều hơn, trong đó có khách du lịch tâm linh.

Trung tâm Bảo tồn di sản Thành nhà Hồ đã hình thành các tour, tuyến du lịch thường xuyên với tần suất 3 chuyến/tuần.

Với những nỗ lực trên, từ sau khi Thành nhà Hồ đón nhận bằng di sản thế giới đến nay, lượng khách đến Thành nhà Hồ đã tăng 2,5 lần so với trước, trong đó lượng khách quốc tế có chiều hướng tăng cao hơn, đặc biệt là khách đến từ Trung Quốc, Nhật Bản... Trong 9 tháng năm 2013 đã có gần 50.000 du khách đến với Thành nhà Hồ.

Ông Nguyễn Xuân Toán, Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di sản Thành nhà Hồ cho biết có tới 80% du khách khi đến tham quan kiến trúc thành đá Nhà Hồ đều đến các điểm du lịch tâm linh trong khu vực thành và vùng phụ cận.

Vì vậy, việc phát triển du lịch tâm linh trong vùng quy hoạch Thành nhà Hồ cũng tạo điều kiện thúc đẩy phát triển du lịch, làm đa dạng loại hình du lịch và góp phần "giữ chân" du khách lâu hơn khi đến tham quan du lịch Thành nhà Hồ.

Hiện nay, số lượng du khách đến Thành nhà Hồ còn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh. Nguyên nhân chính của thực trạng này là do các công ty du lịch chưa làm tốt công tác kết nối các tour, tuyến du lịch, cơ sở hạ tầng còn nhiều bất cập. Du khách khi đến Thành nhà Hồ chưa có chỗ ăn, nghỉ tiện lợi.

Để khắc phục tình trạng trên, từ nay đến năm 2014, Trung tâm Bảo tồn di sản Thành nhà Hồ sẽ phối hợp với Ủy ban UNESCO, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoàn thành quy hoạch tổng thể khu di sản thế giới Thành nhà Hồ với diện tích 5.234ha, trong đó vùng lõi của Thành nhà Hồ có diện tích 155,5 ha với 3 bộ phận chính gồm La thành, Hoàng Thành và Đàn tế Nam Giao.

Sau khi quy hoạch hoàn thành sẽ có cơ sở xây dựng hạ tầng giao thông, khu vực lưu trú, điểm ăn, nghỉ của du khách... để thu hút du khách đến tham quan Thành nhà Hồ được đông đảo hơn.

Thành nhà Hồ (Thanh Hóa) được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới từ năm 2012.

Trung tâm Bảo tồn di sản Thành nhà Hồ (Thanh Hóa) đã phối hợp với Ủy ban UNESCO, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch khai quật để phát lộ tổng thể toàn bộ kiến trúc Đàn tế Nam Giao. Qua đó, du khách đến tham quan sẽ có cái nhìn tổng quan về lễ tế giao của vương triều Hồ.

Tại Đàn tế Nam Giao, qua đợt khai quật lần đầu du khách đã có thể hình dung 5 cấp nền của đàn tế, phát lộ vị trí viên đàn (trung tâm của đàn tế Nam Giao), khu vực tế thần sông, thần núi, khu vực giếng vua cung cấp nước cho lễ tế. Việc khai quật cũng đã phát hiện bộ hài cốt trâu trấn yểm long mạch của đàn tế.

Trung tâm Bảo tồn di sản Thành nhà Hồ cũng đang trùng tu, sửa chữa đền thờ nàng Đình Khương trong quần thể Thành nhà Hồ, xây dựng hồ sơ khoa học Đền thờ Trần Khát Chân (đã được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia) ở xã Vĩnh Thành để bổ sung vào di tích di sản thế giới Thành nhà Hồ nhằm tạo thêm điểm thu hút khách du lịch tâm linh./.

Thông điệp lịch sử từ ngôi chùa tháp Phổ Minh - Nam Định

Chùa Phổ Minh mở đầu cho kiến trúc Phật giáo thời Trần tọa lạc tại thôn Tức Mạc - xã Lộc Vương ngoại thành Nam Định. Xung quanh ngôi chùa nổi tiếng này còn nhiều bí mật chưa được khám phá.

Theo biên niên sử, chùa Phổ Minh được vua Trần Thánh Tông cho xây dựng vào năm 1262 ở phía Tây cung Trùng Quang, phủ Thiên Trường. Nhưng theo các bản khắc trên bia cho biết chùa có từ thời Lý, được mở rộng với quy mô lớn vào thời Trần. Trải qua nhiều lần tu bổ nhưng chùa vẫn giữ được nhiều dấu tích nghệ thuật đời Trần.
 
Chùa Phổ Minh được xây dựng vào 1262 phía Tây cung Trùng Quang, phủ Thiên Trường
Các công trình kiến trúc và chạm khắc trong chùa còn giữ được dấu ấn của thời Trần và thời Mạc như bộ cánh cửa bằng gỗ lim chạm rồng ở nhà bái đường, tháp Phổ Minh, đôi sấu ở tam quan, rồng ở thành bậc tiền đường, tháp và tượng Bà chúa Mạc… Trước đây, chùa có một chiếc vạc lớn bằng đồng đặt ở sân trước được coi là một trong bốn bảo khí quốc gia (vạc Phổ Minh, tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, tượng Quỳnh Lâm).
Tháp Phổ Minh - ngọn tháp chùa bằng gạch cao nhất Việt Nam
Nhắc đến chùa Phổ Minh không thể không nhắc đến ngọn tháp nổi tiếng tháp Phổ Minh. Tháp được xây dựng vào năm 1305 gồm 14 tầng, cao 21,2 m. Trung tâm Sách kỉ lục Việt Nam đã xác lập kỷ lục đây là ngôi tháp chùa bằng gạch cao nhất Việt Nam. Cả chùa và tháp Phổ Minh đều được Bộ Văn hóa thông tin công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.
Những công trình kiến trúc, nét chạm khắc hoa văn ở ngôi chùa Phổ Minh linh thiêng đều chứa đựng những thông điệp của riêng nó. Chúng khơi gợi trí tò mò khám phá cho những ai một lần đến tham quan ngôi chùa./.

Đình Thoại Ngọc Hầu (An Giang): Điểm du lịch văn hóa tâm linh


Thoại Sơn là một trong những điểm du lịch hấp dẫn gắn liền với tên tuổi Thoại Ngọc Hầu, ngoài những danh lam thắng cảnh như lòng hồ ông Thoại, Linh Sơn Tự, tượng Phật bốn tay, bàn chân Tiên, đại thanh đao huyền bí trên núi Ba Thê, du khách đến Thoại Sơn cũng không thể quên một di tích lịch sử rất quan trọng, đó là đình Thoại Ngọc Hầu gắn liền với dòng kinh Thoại Hà được lưu danh vào lịch sử.

Đình Thoại Ngọc Hầu với bia đá Thoại Sơn, cây dầu hàng trăm năm tuổi là một trong những công trình kiến trúc cổ xưa thu hút bao du khách tham quan, đây được xem là điểm đến ấn tượng, gắn với tour tuyến du lịch văn hóa tâm linh, được UNESCO Việt Nam bình chọn.

Bia Thoại Sơn là một trong ba di tích lịch sử, loại bia ký nổi tiếng ở Việt Nam dưới chế độ phong kiến còn lưu lại đến ngày nay. Hiện bia xưa được bảo quản khá tốt trong đình thờ Thoại Ngọc Hầu tại triền núi Sập, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, Để đánh dấu một công trình đào kinh Thoại Hà vào năm 1818, Thoại Ngọc Hầu soạn một bài văn khắc vào bia đá.

Năm Minh Mạng thứ ba (1822), ông long trọng làm lễ dựng bia và khánh thành miếu thờ Sơn thần, nay là ngôi Đình thần thờ Thoại Ngọc Hầu tại thị trấn núi Sập, huyện Thoại Sơn. Bia Thoại Sơn bằng đá, đầu bia chạm to hai chữ Thoại Sơn, chiều cao 3 mét, ngang 1,2 mét, bề dày 2 tấc, mặt bia chạm đúng 629 chữ Hán và cụ đã gom dân lập làng đặt  tên là làng Thoại Sơn.

Hiện nay, Bia xưa vẫn còn ở y vị trí ban đầu (trong đình), nét chữ Hán trên mặt bia còn sắc và đẹp. Còn ở bên ngoài đình thờ, người đời sau cho dựng thêm một tấm bia đá lớn khác, kích cỡ tương tự nhưng kém mỹ thuật hơn, khắc bản dịch bằng tiếng Việt. Đình thần Thoại Sơn, thờ Thoại Ngọc Hầu và là nơi giữ gìn tấm bia cổ Thoại Sơn.

Mùa thu năm Đinh Sửu (1817), lão thần kính (Thoại Ngọc Hầu), được vua trao ấn phù giữ trấn Vĩnh Thanh, mùa xuân năm Mậu Dần (1818) vâng chỉ đốc suất đào kinh Đông Xuyên. Ngài thụ mệnh vua, sớm khuya kính sợ, đốn cây rậm, bới bùn lầy, đào kinh dài đến 12.410 tầm, trải qua một tháng thì xong việc, nghiễm nhiên trở thành ra một sông to, luôn luôn ghe thuyền qua lại tiện lợi...lại vâng theo lời dụ của vua, lấy danh tước Thoại Ngọc của lão thần, vì đã coi sóc việc này mà đặt tên là núi thoại để nêu lên cho tên kinh Đông Xuyên, lão thần do tên núi này mà được đội mang một danh dự ngoài phần mong mỏi.

Kính dựng một miễu thần nơi chân núi, chọn đá làm bia, ghi to hai chữ Thoại Sơn, cùng kể rõ nguyên lai trên núi, ngõ hầu lưu lại đời đời không mất... Bia Thoại Sơn là một áng văn hay, một tác phẩm nghệ thuật độc đáo và còn là di tích lịch sử nổi tiếng. Ngày 28 tháng 9 năm 1990, bia đá Thoại Sơn đã Bộ Văn hóa ra quyết định số 993/VH.QĐ công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia và ngày nay đình Thoại Ngọc Hầu là điểm tham quan lý tưởng với những sản phẩm du lịch độc đáo như kiến trúc ngôi đình cổ, cây đại thụ, bia đá nằm trong không gian rộng mát trên triền núi Sập thuộc huyện Thoại Sơn, An Giang. 

Hằng năm Đình Thoại Ngọc Hầu còn là nơi tổ chức lễ hội văn hóa để đông đảo khách du lịch thập phương tề tựu về đây chiêm bái, vui chơi giải trí, thưởng ngoạn phong cảnh kết hợp nghỉ dưỡng tâm linh. Thật tuyệt vời, giờ đây bạn chỉ cần vượt đường bộ khoảng 25 km là đến ngay khu di tích nằm dưới triền núi Sập xung quanh là những cây dầu cổ thụ xanh tươi hùng vĩ mà ngày xưa làm nhiên liệu thắp sáng cho Đình. Bạn sẽ khỏi bâng khuâng khi nhìn lại bài văn khắc trên bia đá, một lịch sử mà cụ Thoại Ngọc Hầu khai phá thành vùng đất trù phú như hôm nay./. 

Thác Trâu Đá – Vẻ đẹp hoang sơ giữa núi rừng Đắk Lắk

Thác Trâu Đá là một thắng cảnh đẹp kỳ vĩ, nguyên sơ hữu tình mà thiên nhiên ban tặng cho núi rừng Đắk Lắk.

Thác Trâu Đá là cách gọi của người Mnông Gar ở khu vực  buôn Yông Hắt, xã Krông Knô (huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk). Thác mang hình đầu một chú trâu trắng đang thở “phì phò” ra những dòng nước trắng xóa.
Thác nước hoang sơ, huyền ảo này gắn liền với một truyền thuyết kỳ lạ. Theo nhiều người già trong buôn kể lại, vào thuở xa xưa, khi trời đất mới hình thành, đất trời nổi lửa khắp nơi, người người không thoát khỏi nạn lửa. Bỗng nhiên nơi chân trời xuất hiện một con trâu trắng, đồng bào liền bắt và làm lễ đâm trâu hiến tế cho trời đất được hiền hòa. Nơi trâu được hiến tế biến thành một thác đá ào ào tuôn nước trắng xóa, từ đó những ngọn lửa tắt, đất đai trù phú, cây cối sinh sôi nảy lộc.
Đường lên thác là đá tảng chồng xếp gần như dốc đứng. Nơi thác Trâu Đá đổ xuống là một tảng đá lớn như hình một chú trâu kỳ lạ, bên trên là dòng nước từ xanh thẳm đại ngàn tung bọt trắng xoá. Dòng nước mạnh mẽ, cuộn xoáy, chảy qua những lớp đá. Mỗi lớp đá mang một dáng vẻ khác nhau, nổi bật dưới làn nước những gam màu cam, đỏ, đen hoà quyện, ẩn hiện qua những vân đá kỳ ảo, tựa như bức tranh thuỷ mặc trác tuyệt của thiên nhiên làm say đắm lòng khách phương xa.
Ngay bên cạnh “mõm trâu” có một hốc nước, mà theo người dân  buôn Yông Hắt, đó là cối giã gạo bằng nước, một “nguồn thức ăn vô tận” để trâu canh giữ cuộc sống nơi đây. Cách nơi chú trâu đang nằm khoảng 5m có một cây nêu thiêng, theo truyền thuyết là nơi mà tổ tiên xa xưa của người M’nông Gar đã cắm cây nêu xuống tảng đá và cột chú trâu trắng, sau khi cắm xuống thì không nhổ lên được nữa.
Ngay bên dưới chú trâu đá là các bậc thác, những dòng nước lúc êm ả, lúc ầm ào như đang kể chuyện về sự huyền bí, thiêng liêng của rừng xanh đại ngàn. Điều kỳ diệu là khi dòng nước tuôn ra từ trâu đá rồi tràn xuống phía dưới, những phiến đá màu trắng sẽ mang một màu đỏ rất đặc trưng, trông giống như dòng máu thiêng của chú trâu tạo nên một quang cảnh ngoạn mục giữa núi rừng.
Để đến được với thác Trâu Đá là cả một chuyến đi rất thú vị cho những người đam mê khám phá du lịch sinh thái. Trước tiên, điều cần nhất trong chuyến đi là phải có một người dẫn đường thông thạo tại địa phương, vì nơi đây còn hoang sơ nên nếu du khách không cẩn thận sẽ dễ bị lạc đường và đường lên thác cũng khá gian nan. Nguyên một cánh rừng cao che khuất tầm nhìn, độc đáo có những loại hoa lá luôn biến đổi sắc màu theo mùa. Đường rừng, cộng với những con dốc gần như thẳng đứng sẽ khiến bạn nản lòng, nhưng những âm thanh vang vọng của thác nước dường như trợ sức để tiếp bước lên đỉnh thác./.

Hòn Cau (Bình Thuận): Vẻ đẹp hoang sơ, đa dạng tài nguyên sinh vật biển


Hòn Cau được biết đến như một hòn đảo nhỏ, nằm cách bờ khoảng 9km, nhìn từ xa như một “chiến hạm”. Vùng biển nơi đây rất phong phú, đa dạng về tài nguyên sinh vật biển. Hiện nay, Hòn Cau đã được quy hoạch thành khu bảo tồn sinh vật biển với tên gọi Khu bảo tồn biển Hòn Cau.

Khu bảo tồn biển Hòn Cau có diện tích 12.500 ha, trên vùng biển thuộc huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. Đây là một hòn đảo trẻ nổi lên giữa biển về hướng Đông Bắc, được bao quanh bởi hàng vạn khối đá có nhiều màu sắc và hình thù khác nhau, nằm thành cụm, thành nhóm hoặc riêng lẻ như bức tranh Thủy mặc đa dạng, phong phú có sự sắp đặt của bàn tay con người. Nhiều bãi biển đẹp, cát trắng tinh, được bao bọc bởi những bức tường đá, tạo không gian riêng, thoải mái cho du khách khi được ngâm mình dưới làn nước trong xanh. Hệ sinh thái biển ở đây phong phú, điển hình của vùng biển nhiệt đới: rạn san hô nhiều màu sắc và chủng loại, thảm cỏ biển, nhiều loài thủy sinh vật quý hiếm... Với vẻ đẹp hoang sơ, đa dạng hệ sinh thái biển, Hòn Cau thu hút nhiều du khách tới nghỉ dưỡng và khám phá thế giới tự nhiên dưới biển. Tại đây, hàng năm còn có lễ hội truyền thống vào ngày rằm tháng 4 âm lịch, ngư dân tổ chức lễ hội Cầu ngư, thu hút nhiều người dân địa phương và du khách đến vui chơi, tìm hiểu văn hóa lễ hội của người dân vạn chài.

Điểm đặc biệt của Hòn Cau là quần thể san hô nguyên thủy dài hơn 2 km với gần 234 loại san hô. Du khách chỉ cần lặn sâu xuống 4 - 5m, bức tranh đầy sắc màu của thế giới san hô hiện ra lung linh trong ánh sáng khúc xạ qua làn nước trong xanh. Chưa kể đến nguồn lợi thủy sản trong rạn san hô, nhất là nguồn lợi tôm hùm. Theo kinh nghiệm của bà con ngư dân, thì khu vực phía Đông và Đông Bắc của Hòn Cau có các rạn ngầm chính là bãi đẻ của 3 loài tôm hùm bông, tôm hùm đỏ và tôm hùm xanh. Là vùng biển có nhiều loài động, thực vật biển, quý hiếm. Theo những kết quả nghiên cứu cho thấy, vùng biển xung quanh đảo Hòn Cau có sự hiện diện của trên 34 loài thủy sinh vật quý hiếm nằm trong danh mục có nguy cơ tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau. Mặt khác, nơi đây còn được xem là bãi đẻ của rùa biển, đồi mồi và nhiều loài cá, bổ sung nguồn lợi thủy sản đáng kể cho các vùng biển xung quanh.

 Tuy nhiên, vì lợi ích trước mắt một số ngư dân khai thác bừa bãi, sử dụng những phương pháp đánh bắt mang tính hủy diệt nguồn lợi như chất nổ, khai thác san hô làm hàng mỹ nghệ… đã làm suy giảm diện tích các rạn san hô, thảm thực vật biển, mất đi hệ đệm hữu ích cho các hệ sinh thái biển, đe dọa sự bền vững của tài nguyên, sinh học biển Hòn Cau.

Ban Quản lý khu bảo tồn Hòn Cau, đã và đang nỗ lực trong công tác bảo vệ và bảo tồn bằng nhiều hình thức, tuần tra kiểm soát, trồng rừng, xây dựng Dự án Thả phao phân vùng phân khu bảo vệ; bảo vệ và bảo tồn rùa biển (đã cứu hộ và cho ấp nở trứng rùa biển thành công, đạt tỉ lệ nở 70%, vài trăm con rùa biển sau khi nở được thả xuống biển). Ngăn chặn kịp thời nhiều vụ khai thác thủy sản ở vùng cấm và mua bán vận chuyển san hô trái phép… Nhờ đó, đã có sự phục hồi đáng kể các rạn san hô, hệ sinh cảnh, các loài động, thực vật. Từ đầu tháng 6 cho đến nay, có khoảng 10 cá thể rùa biển vào khu vực đảo Hòn Cau, đội tuần tra của Khu Bảo tồn đã bảo vệ thành công loại động vật quý hiếm này.

 Khu bảo tồn biển được thành lập vào tháng 9/2012 là một trong 16 hệ thống khu bảo tồn biển trong cả nước đã được trình Chính phủ phê duyệt. Với mục tiêu thiết lập khu bảo tồn để duy trì và bảo vệ tài nguyên biển, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ nơi quần cư của các loài sinh vật biển, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế sinh thái, duy trì và cải thiện sinh kế, quản lý và sử dụng bền vững nguồn lợi thủy sản. Sự nỗ lực trong công tác quản lý và bảo vệ Khu bảo tồn biển Hòn Cau, sẽ tăng nguồn lợi thủy sản, sản lượng khai thác tại các vùng lân cận khu bảo tồn cũng sẽ tăng theo. Hỗ trợ đắc lực cho nghề cá địa phương, đồng thời tăng thu nhập và cơ hội việc làm cho người dân địa phương thông qua việc phát triển du lịch sinh thái biển tại khu bảo tồn Hòn Cau./. 

Chùa Bửu Sơn Tự (Sóc Trăng) - Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh


Với những nét độc đáo, tinh xảo của gần 2.000 pho tượng, hiện vật trong Chùa được làm bằng đất sét, với những cây đèn cầy (nến) to khổng lồ mà có thể đốt hết trên 50 năm... Bửu Sơn Tự hay người dân còn gọi là Chùa Đất Sét - một ngôi chùa trong lòng thành phố Sóc Trăng, đã tạo nên một điều kỳ diệu và hấp dẫn du khách mỗi khi đến tham quan tại Chùa.

Đánh giá đúng tầm nghệ thuật kiến trúc của chùa, ngày 10/12/2010 Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng đã có Quyết định xếp hạng Bửu Sơn Tự là Di tích văn hóa (Di tích kiến trúc nghệ thuật) cấp tỉnh.

Để phát huy tiềm năng du lịch sẵn có, trong năm 2012, Chùa đã thành lập Ban Quản lý di tích. Từ đó đến nay, Ban Quan lý đã phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng ở địa phương, quản lý tốt các vật thể, kiến trúc trong và ngoài chùa. Hiện nay, trong khuôn viên Bửu Sơn Tự đều có nhân viên 02 bảo vệ (01 trước cổng Chùa và 01 bên trong sân Chùa) để giữ gìn an ninh trật tự, sắp xếp bãi đậu xe. Nhờ vậy 06 tháng đầu năm không xảy ra trường hợp nào làm mất an ninh - trật tự tại đây.

Ban Quản lý Chùa quan tâm tu sửa, bố trí lực lượng, giữ gìn an ninh trật tự, vệ sinh mội trường tốt nên Chùa ngày càng thu hút nhiều du khách đến tham quan. Đặc biệt, điều ấn tượng cho du khách đến Chùa là các cặp đèn cầy (nến) rất khổng lồ. Ngoài ra, còn có đèn Lục Long Đăng, các vị tượng Phật, Tháp Đa Bảo 13 tầng, tòa hoa sen 1.000 cánh, các linh vật bảo thú Long- Lân Qui- Phụng được nặn ra thật công phu. Du khách trong và ngoài nước không khỏi thán phục khi được chiêm ngưỡng công trình kiến trúc được tạo dựng từ một người nông dân chưa có bằng cấp sơ đẳng nào về kiến trúc, hội họa hay nắn tượng./.

Cổ kính Vạn An Thạnh – Bình Thuận


Đảo Phú Quý có bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa lâu đời. Với hơn 30 di tích Lịch sử – Văn hóa đủ mọi loại hình và niên đại trải đều trên một diện tích tự nhiên gần 17,82 km2 của đảo là một bằng chứng lịch sử sinh động chứng minh cho quá trình khai phá và xây dựng đảo của người Việt Nam.

Các di tích đó còn nói lên sức sống mãnh liệt của nhân dân qua hàng trăm năm giữa biển khơi, làm rạng rỡ nguồn gốc con người Việt Nam nơi hải đảo xa xôi. Vạn An Thạnh là một điển hình, Vạn tọa lạc trên một bãi cát trắng sát cạnh bờ biển thuộc làng Triều Dương, xã Tam Thanh, huyện Phú Quý. Vạn ở vị trí cách trung tâm huyện lỵ Phú Quý 2.5km về hướng Đông Nam và cách UBND xã Tam Thanh 1km về hướng Đông. Tên gọi Vạn An Thạnh nói lên ước nguyện có một cuộc sống an khang, thịnh vượng của bà con ngư dân nơi đây.

Từ bao đời nay, đánh bắt hải sản là nghề chủ đạo của ngư dân Phú Quý. Sống giữa một môi trường biệt lập, bốn bề là đại dương bao la, những nhân tố đó đã hình thành nên một sắc thái địa phương ở xứ đảo. Lâu nay, ngư dân Phú Quý có một niềm tin tưởng mãnh liệt vào sự linh hiển của cá Ông (cá Voi) và coi đó là vị thần cứu trợ luôn ở bên cạnh họ trong những chuyến biển đầy hiểm nguy. Trong ngư dân Phú Quý lưu truyền rất nhiều sự tích nói về sự linh thiêng của Thần Nam Hải. Những sự tích đó được đúc kết dưới dạng những câu thơ, bài hát, điệu hò dân gian. Mặc dù đó chỉ là những sự tích ít nhiều mang tính huyền thoại, nhưng đối với ngư dân thì họ tuyệt đối tin tưởng. Bởi vì họ là những người từng bị sóng gió vùi dập, và chính từ trong cơn hiểm nghèo đó họ đã chứng kiến Thần Nam Hải đến cứu mình. Trước kia phương tiện đi biển rất thô sơ, với chiếc thuyền con mộc mạc nhỏ bé nên con người chủ yếu dùng chính sức lực của mình để chèo chống khi có giông tố bất ngờ ập đến. Và trong cơn hoạn nạn, ngư dân thường khấn vái rằng… “Phục vận Nam Hải sanh thần linh thiêng hiển hích cứu hộ chúng dân tai qua nạn khỏi…”. Khi đó thần Nam Hải sẽ linh ứng xuất hiện, tựa thân mình vào thuyền và dìu dắt vô bờ xuôi theo chiều gió. (Như chúng ta đã biết, theo khoa học thì cá Voi là một động vật biển thở bằng phổi nên thường ngoi lên mặt nước để thở. Lúc sóng to gió lớn cá Voi thường tìm những vật lớn để nương tựa vào nhau tránh bị sóng gió vùi dập. Những lúc đó cả hai nương tựa vào nhau, có lợi cho nhau thoát cơn hiểm nghèo.

Dân tộc ta có truyền thống “uống nước nhớ nguồn” và tôn trọng công lao của ông bà trong sự nghiệp khai phá, tạo dựng ngày trước. Vạn An Thạnh là một trong những biểu hiện tiêu biểu của truyền thống đáng quý đó. Vạn thờ cá Ông cùng thờ Thành hoàng bổn xứ và Tiền hiền, Hậu hiền. Theo tài liệu để lại thì Vạn An Thạnh được tạo dựng vào năm Tân Sửu (1781), là Vạn có niên đại sớm nhất so với các Vạn khác ở Phú Quý. Thuở sơ khai Vạn chỉ là một bộ khung gỗ lợp tranh vách lá bấy giờ chưa có “Ngài” nào trôi dạt lên đảo. Đến năm Tân Sửu (1841) mới có “Ngài” đầu tiên “Hóa” (chết) dạt vào bãi cát trước Vạn. Bà con ngư dân đã tổ chức lễ mai táng long trọng. Vị này to lớn và là vị đầu tiên trôi dạt lên đảo nên được gọi là “Vị Cố”. Hiện nay trên khám thờ thần Nam Hải ở Vạn An Thạnh còn lưu giữ bức Thần chú thờ Vị Cố có chạm dòng chữ Hán cổ “Nam tế Hải linh cự tộc Ngọc Lân thủy tướng tôn Thần, Tân Sửu Niên, Thập ngoạt thập ngũ nhật tị thời”. Từ đó đến nay Vạn lấy ngày 15 tháng 10 làm ngày giỗ Vị Cố và đây cũng là dịp Tế thu của Vạn.

Ngoài ra, trong khuôn viên còn có các bộ phận phụ khác như: Khu mai táng xác ông bà, công quán, cổng vào, án phong, nhà khói…Vạn An Thạnh là di tích kiến trúc tôn giáo liên quan đến tín ngưỡng ngư nghiệp. Vạn ẩn mình dưới những hàng dừa xanh bao phủ, hướng chính quay về phía nam nhìn thẳng ra biển khơi. Các bộ phận kiến trúc chính của vạn gồm Chính điện, Võ ca và Tiền hiền được bố trí dạng chữ Tam.
 
Hiện nay Vạn lưu giữ gần 100 bộ hài cốt (gồm cá voi, rùa da), bà con ngư dân coi đó là hài cốt của ông bà nên tôn thờ với những nghi thức kính cẩn. Với gần 100 bộ hài cốt cá ông, rùa biển đủ niên đại, kích cỡ, Vạn An Thạnh là nơi có một bộ sưu tập phong phú về cá ông rất có giá trị trong việc nghiên cứu sinh vật biển đối với các nhà hải dương học. Tại Vạn còn lưu giữ bộ xương cá Nhà Táng thuộc họ cá Voi, bộ xương có chiều dài trên 17m, có 50 đốt xương, cá có 30 đôi răng mọc ở hàm dưới (tương truyền lúc cá mới dạt vào bờ nặng khoảng 40 tấn). Đây là bộ xương cá Voi lớn thứ hai ở Bình Thuận (sau bộ xương cá Voi ở Vạn Thủy Tú, Phan Thiết). Hiện nay, Vạn An Thạnh được Nhà nước và nhân dân đầu tư trên 8 tỉ đồng để trùng tu xây dựng Vạn và Nhà trưng bày xương cá Voi cùng một số hạng mục khác.

Tại Vạn An Thạnh thường xuyên diễn ra các lễ hội như: Lễ hội tế xuân: Kéo dài từ mùng 10 đến 20/1 âm lịch, đây cũng là dịp Cầu Ngư đầu năm của Vạn. Đây là lễ tế Thần đầu năm để cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng thắng lợi. Lễ hội tế xuân của Vạn An Thạnh, ngoài việc tế Thần đầu năm còn gắn liền với mục đích cầu ngư. Ngoài những nghi thức hành lễ theo tập tục cổ truyền (vật dâng tế Thần Nam Hải, nhang đèn, chuông trống, văn tế Thần và Tiền hiền, Hậu hiền) là những sinh hoạt văn hóa, vui chơi giải trí thu hút đông đảo bà con ngư dân xứ đảo. Đây cũng là dịp để hướng mọi người quay về cội nguồn, tổ tiên và truyền thống lâu đời của dân tộc.

Lễ giỗ vị cố: Tiến hành vào ngày 15/10 âm lịch, đây cũng là dịp Tế Thu của Vạn. Ngoài những nghi thức hành lễ long trọng như lễ tế xuân, còn có thêm nghi thức rước ông Sanh từ biển khơi. Ngư dân tổ chức ghe thuyền, cờ trống ra khơi nghinh đón những vị thần sống về vạn chứng kiến ngày tế lễ. Những bài văn tế Thần, Tiền hiền và Hậu hiền được đọc long trọng trong buổi lễ. Hiện nay Vạn An Thạnh còn lưu giữ bài văn tế dày 124 trang viết bằng chữ Hán cổ được lưu truyền từ đời này qua đời khác.

Trong lễ hội tế xuân và tế thu của Vạn An Thạnh, có các loại hình văn hóa dân gian như dân ca nghi lễ, hát chèo bả trạo… là những làn điệu cổ truyền rất độc đáo của ngư dân Phú Quý. Những sinh hoạt văn hóa truyền thống đó không thể thiếu trong ngày hội văn hóa của toàn dân. Đây là dịp để mọi người ôn lại truyền thống khai phá xây dựng đảo, tăng cường tình đoàn kết, mối tương thân tương ái giữa các ngư dân, củng cố và tăng cường sức mạnh trong sự nghiệp lao động và xây dựng đảo Phú Quý ngày càng sung túc hơn.

Ngoài gần 100 bộ xương cốt là những di vật chính ở đây, Vạn An Thạnh còn nhiều hiện vật quan trọng khác tạo nên di sản văn hóa của ngư dân vùng đảo: bao gồm tượng thần “Thủy lân”, gia phả, văn tế, sắc phong, hoành phi, liên đối. Vạn An Thạnh là một trong những di tích cổ ở đảo Phú Quý được các vua triều Nguyễn phong tặng số lượng sắc tương đối nhiều. Nội dung sắc thần chủ yếu ban tặng “Thần Nam Hải cự tộc ngọc lân” và những tướng lĩnh có công giúp Nguyễn Ánh chạy nạn và chết ở đảo. Có tất cả 10 sắc thần gồm những đời vua Tự Đức, Đồng Khánh, Duy Tân … ban.

Vạn An Thạnh được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích cấp Quốc gia, tại Quyết định số 51/QĐ/BT ngày 12/01/1996. Ngoài những giá trị văn hóa dân gian truyền thống Vạn An Thạnh là một Bảo tàng văn hóa biển tồn tại đã 219 năm (tính đến năm 2010), với nhiều sưu tập những chủng loại cá voi và rùa da. Có thể xếp vào hạng các Bảo tàng về biển có niên đại cổ xưa trên thế giới. Trong những năm gần đây nhiều nhà nghiên cứu về Hải dương học, những đoàn khách du lịch nước ngoài đến đảo đã rất thích thú về việc bảo quản, giữ gìn di vật trong Vạn An Thạnh. Vạn An Thạnh như một chứng nhân bao đời của lịch sử vùng đảo. Những giá trị về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và văn học dân gian sẽ được kế thừa tiếp tục phát triển những điểm tốt, hạn chế và loại bỏ dần những biểu hiện tiêu cực trong lễ nghi để sẵn sàng chuyển giao tốt cho các thế hệ mai sau./.

Khu du lịch suối Mỡ (Bắc Giang): Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia


Khu du lịch Suối Mỡ là địa chỉ quen thuộc của các đoàn du lịch trong và ngoài nước. Sự quan tâm, đầu tư của Nhà nước và địa phương đã và đang biến nơi đây trở thành khu du lịch tổng hợp lớn nhất Bắc Giang với đầy đủ hạng mục nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu về nghỉ dưỡng, tham quan, cắm trại, leo núi, bơi thuyền, câu cá, đua ngựa, săn bắn....của khách du lịch.

Khu du lịch suối Mỡ nằm trên địa phận xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, cách thành phố Bắc Giang 30 km về phía đông. Suối Mỡ nằm cách thủ đô Hà Nội 80 km theo quốc lộ 31 và đường tỉnh lộ 293. Suối Mỡ nằm trong thung lũng núi Huyền Đinh- Yên Tử. Nó được đặt tên theo tên một con suối với nhiều thác nước lớn, nhỏ và nhiều bồn tắm thiên nhiên kỳ thú trỉa dọc theo dòng chảy. Phong cảnh Suối Mỡ rất huyền ảo, những con suối tung bọt nước lên những phiến đá tạo nên nơi đây một bức tranh sơn thuỷ hữu tình mang vẻ đẹp rất tự nhiên.

Giá trị về mặt lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng của Khu du lịch Suối Mỡ gắn liền với ba ngôi đền (đền Thượng, đền Trung và đền Hạ) thờ Thánh Mẫu Thượng Ngàn.

Lịch sử kể lại rằng, con gái thứ IX của vua Hùng, công chúa Quế Mị Nương là người thích du ngoạn cùng sơn thủy hữu tình, hòa mình cùng cỏ cây hoa lá và trời đất bao la. Khi đến vùng đất nay, Mị Nương thấy dân tình nơi đây sống thật khốn khổ, đói rách vì hạn hán, đất đai thì cằn cỗi, công chúa rất buồn lòng. Vào ngày đầu xuân, Mị Nương lên núi Huyền Đinh dạo chơi, bất choặt một cơn gió mạnh đã cuốn Nàng bay đi và đưa Nàng tới khúc Suối Mỡ ngày nay. Khi hạ giá xuống đây (thác Vực Mỡ), Mị Nương đã dùng 5 đầu ngón chân ấn xuống tảng đá và từ những vết chân này một dòng nước mát ào ào chảy tạo ra thành một con suối. Đó chính là Suối Mỡ ngày nay. Con suối đưa nước tưới đồng ruộng, nhân dân nơi đây có nước canh tác, sinh sống, quanh năm mưa thuận gió hòa, đồng ruộng tốt tươi, cuộc sống ấm no, hạn phúc hẳn lên. Để đời đời ghi công ơn ấy, nhân dân đã lập ba ngôi đền thờ và suy tôn bà là Thánh mẫu Thượng ngàn. Hội đền được tổ chức hàng năm vào ngày 30 tháng 3 và 1 tháng 4 (âm lịch) với phần lễ trang trọng và phần hội đông vui, nhộn nhịp.

Cũng từ đây người ta gọi con suối này là Suối Mẫu, và chỗ in dấu 5  đầu ngón tay của Mị Nương có tên là Vực Mẫu. Do thời gian, và phần lớn di ảnh hưởng của kiểu “đọc trại”, Suối Mẫu và Vực Mẫu mới có tên như ngày nay là Suối Mỡ và Vực Mỡ. Ba ngôi đền (Thượng, Trung và Hạ) được xây dựng vào khoảng thế kỷ XV- XVI (dưới thời nhà Lê). Hiện nay ba công trình nhằm tưởng nhớ công ơn của Thánh Mẫu ngày nay vẫn giữ được những nét kiến trúc cổ và ý nghĩa lịch sử, tín ngưỡng sâu sắc.

Lịch sử Suối Mỡ còn gắn liền với cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm của cha ông ta. Tương truyền, trong thời gian chống quân Nguyên Mông từ phương Bắc, Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn đã lập đại bản doanh ở nơi đây để chặn đứng mũi tiến quân của bọn xâm lược từ ải Chi Lăng. Hưng Ðạo Vương từng đến vùng đỉnh thác xem xét địa hình, sắp đặt việc binh, tìm kế đánh lui kẻ thù xâm lược. Để ghi nhớ môc son lịch sử này, người ta đã lập nơi đây ngôi đền có tên là Đền Trần, ngay bên thác.

Đền Hạ là ngôi đền có mô nhất, xây trên khuôn viên rộng rãi bên con suối Mỡ sum suê bóng cây cổ thụ. Ðền Hạ là hình mẫu kiến trúc tiêu biểu cho một ngôi đền thờ Mẫu ở các thế kỷ 19 - 20 vùng đồng bằng Bắc Bộ. Lên cao hơn nữa là ngọn "Thác Chúa", còn gọi thác "Thùm Thùm". Nước quanh năm đổ như sấm rền, vang vọng khắp vùng thung lũng. Kế tiếp là điểm dừng chân nơi đền Trung và đền Thượng.

Mỗi ngôi đền đều có nét kiến trúc không hoàn toàn giống nhau, nhưng cả hai đều rất trang trọng, thâm nghiêm và mang nét cổ kính. Nét kiến trúc độc đáo của đền Thượng hòa quện vào phong cảnh ở một độ cao nhất định, có núi, cáo cây cối và thanh tĩnh. Nét kiến trúc đó có ở nhiều ngôi miếu ôm thân núi nhiều vùng quê Bắc Bộ, có hậu cung là một vòm hang tự nhiên. Hậu cung của đền Thượng có đường bậc đá dẫn lên đỉnh núi Bà Bô. Từ đây có thể ngắm nhìn phong cảnh xung quanh, xuống các phía, và cũng có thể thấy rõ đồi Giang Khế, nơi tương truyền xưa kia từng có lầu vọng nguyệt. Thắng tích suối Mỡ còn có chùa Hòn trứng, chùa Hồ Bắc, đình Xoan, bãi Quần Ngựa…

Chính cái chất tín ngưỡng cùng những giá trị lịch sử - văn hóa, kết hợp phong cảnh sơn thủy hữu tình đã tạo cho Suối Mỡ một diện mạo của một Khu di tích -du lịch thu hút ngày càng nhiều khách thăm quan bốn phương. Với những giá trị của mình năm 1998, suối Mỡ đã được Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là Di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia.

Hiện nay Khi du lịch Suối Mỡ là địa chỉ quen thuộc của các đoàn du lịch trong và ngoài nước. Sự quan tâm, đầu tư của Nhà nước và địa phương đã và đang biến nơi đây trở thành khu du lịch tổng hợp lớn nhất Bắc Giang với đầy đủ hạng mục nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu về nghỉ dưỡng, tham quan, cắm trại, leo núi, bơi thuyền, câu cá, đua ngựa, săn bắn....của khách du lịch.

Cùng với thực trạng chung của các khu du lịch, Khu du lịch Suối Mỡ cũng đang phải đối đầu với những vấn nạn mà phần lớn phát sinh ra từ chính ý thức người tham gia du lịch, vui chơi giải trí và của cả người dân địa phương, như: tranh cướp du khách, tua du lịch; bói toán, bài bạc, vứt rác thải bừa bãi... Bên cạnh việc thắt chặt công tác quản lý nhằm kịp thời phát hiện và xử phạt nghiêm những hành vi làm ảnh hưởng đến cảnh quan, môi trường du lịch nơi đây, cần phải có những giải pháp tuyên truyền hữu ích nhằm nâng cao ý thức của du khách và người dân địa phương trong việc giữ gìn cảnh quan chung./.