Thứ Hai, 8 tháng 12, 2014

Thăm làng cổ Đông Hòa Hiệp – Tiền Giang

Làng cổ Đông Hòa Hiệp (thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang) nổi tiếng bởi khung cảnh nên thơ, thoáng đãng. Cùng với Đường Lâm (Hà Nội) và Phước Tích (Huế), Đông Hòa Hiệp là một trong 3 làng cổ ở Việt Nam được Tổng cục Du lịch Việt Nam cùng Tổ chức Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) chọn để đầu tư phát triển mô hình du lịch nông thôn.

Du khách đi theo quốc lộ 1A đến ngã ba Cái Bè, rẽ vào Tỉnh lộ 875 chừng 4km sẽ đến trung tâm huyện Cái Bè, đi thêm 2km nữa là đến cầu số 2. Từ đây, du khách sẽ thấy bảng chỉ dẫn đến các nhà cổ: Ba Đức 100m, ông Xoát 3.000m, ông Tòng 900m…
Làng cổ Đông Hòa Hiệp được hình thành từ thế kỷ thứ 18, hiện có hơn 3.000 hộ dân, sống rải rác trong 6 ấp với nguồn lợi chủ yếu từ những vườn cây ăn trái đặc sản của Nam Bộ: xoài cát Hòa Lộc, cam sành, bưởi da xanh, nhãn, vú sữa Vĩnh Kim… Đông Hòa Hiệp còn có các ngành, nghề thủ công truyền thống: làm cốm, tráng bánh tráng, cán bánh phồng sữa… Không giống cách bố trí nhà san sát như ở làng cổ Đường Lâm và làng cổ Phước Tích, làng cổ Đông Hòa Hiệp có một khung cảnh nên thơ, thoáng đãng với những ngôi nhà cổ nằm thấp thoáng giữa những vườn cây trái xanh tươi được bao bọc bởi con sông Cái Bè hiền hòa. Đến đây, du khách thưởng ngoạn cảnh đẹp bình yên của làng bằng cách đi xuồng trên sông hoặc đi bộ men theo những con đường len lỏi giữa các vườn cây rợp bóng.
Một trong những điểm đến ấn tượng đối với du khách ở làng cổ Đông Hòa Hiệp là nhà cổ ông Ba Đức theo kiến trúc Đông Tây kết hợp. Nhà được xây dựng năm 1850 giữa khu vườn rộng hơn 2ha với nhãn, vú sữa, bưởi, cam quýt… xum xuê tạo nên cảnh chân quê mộc mạc nhưng không kém phần nên thơ, lãng mạn. Nếu như mặt tiền của ngôi nhà theo kiểu Pháp với những hàng cột tròn, mái vòm uốn cong thì bên trong nội thất lại là một không gian kiến trúc thuần Việt. Hiện trong nhà vẫn còn lưu giữ được nhiều vật dụng quý và đẹp, cho thấy một thú chơi phong lưu, tao nhã của những gia đình giàu có ở Nam bộ xưa. Gian chính của ngôi nhà có một bộ bàn ghế cổ bằng danh mộc cẩm lai được chế tác tinh xảo. Hai gian phụ có hai tủ thờ cổ chạm trổ xà cừ. Các cặp liễn, hoành phi, bao lam, diềm cửa đều được chạm khắc hoa văn tinh xảo. Những kỷ vật của chủ nhân còn lưu lại như đàn nguyệt, tranh kiếng, đèn dầu lửa, lư đỉnh, chuông mõ, bàn tròn rải rác trong nhà khiến du khách như bước vào không gian của thời xa xưa. Nhà cổ ông Ba Đức còn là điểm du lịch homestay thu hút đông du khách quốc tế. Vào những dịp lễ, Tết hoặc khi khách có yêu cầu, sẽ có những nhóm đờn ca tài tử phục vụ. Du khách sẽ được thưởng thức chương trình văn nghệ đặc sắc với dàn diễn viên, nhạc công là những người dân địa phương. Nhà cổ của ông Ba Đức trung bình mỗi ngày đón gần 100 lượt khách, ngày cao điểm có khi lên tới 500 lượt.
Trong cụm nhà cổ ở Đông Hòa Hiệp còn có nhà cổ của ông Trần Tuấn Kiệt được xây dựng năm 1838 với diện tích gần 1.000m². Nhà có kiến trúc và kết cấu theo kiểu nhà vườn truyền thống mang dấu ấn làng cổ ở đồng bằng Bắc Bộ đã có biến dị, với kiến trúc kiểu chữ Đinh, gồm 5 gian, 3 chái. Ngôi nhà này còn lưu giữ nhiều cổ vật quý: bộ liễn đối khảm xà cừ, bộ bàn ghế với các hoa văn chạm trổ tinh tế, vật dụng bằng gốm sứ Tàu (thời nhà Thanh). Các xà, xiên, kèo, đố, diềm cửa, bao lam… bằng danh mộc (gõ sừng) có chạm khắc các hoa văn thanh thoát: trúc, mai, đào, lan, tùng, bách… Đặc biệt trong nhà còn có 108 cây cột bằng gỗ căm xe núi, được các nhà khảo cổ Nhật Bản đánh giá cao và xếp vô nhóm "cửu đại mỹ gia" ở Việt Nam. Nhà cổ của ông Kiệt trung bình mỗi ngày đón 100 khách đến tham quan.
Chính quyền địa phương, hằng năm, làng cổ Đông Hòa Hiệp có hơn 100.000 lượt du khách đến tham quan kiến trúc các ngôi nhà cổ, khám phá những vườn cây ăn trái, tìm hiểu các nghề truyền thống, lênh đênh trên chợ nổi Cái Bè.../. 

Bãi đá cổ – Điểm du lịch hấp dẫn ở Sa Pa

Bãi chạm khắc đá cổ là một trong những điểm đến còn nguyên nét hoang sơ của Sa Pa, đây là điểm du lịch dự kiến sẽ thu hút hàng nghìn du khách dịp kỷ niệm 110 năm du lịch Sa Pa được tổ chức vào cuối tháng 10 đầu tháng 11/2013.

Sa Pa, Lào Cai không chỉ được biết đến là một khu du lịch nghỉ dưỡng với khí hậu độc đáo, phong cảnh tươi đẹp, mà còn là không gian lưu giữ những nét văn hóa cổ xưa chưa được khám phá, đầy hoang sơ và bí ẩn.

Cách trung tâm thị trấn Sa Pa khoảng 7km về hướng Đông Nam, bãi chạm khắc đá cổ nằm trong thung lũng Mường Hoa, xen lẫn giữa những thửa ruộng bậc thang của đồng bào các dân tộc thiểu số hai xã Hầu Thào và Tả Van.
Khu đá cổ có tổng cộng trên 200 tảng đá lớn nhỏ, với những hình chạm khắc khác nhau như: những vạch song song, hình vuông, hình chữ nhật, hình người, hình ruộng bậc thang, nhà sàn và kể cả dấu vết của chữ viết…
 
Tuy những nét chạm khắc vẫn hết sức đơn giản, nhưng việc giải mã chúng lại đang thực sự là thử thách đối với các nhà nghiên cứu. Người ta mới chỉ hình dung rằng, mỗi phiến đá đều lưu giữ một câu chuyện về đời sống, sinh hoạt, văn hóa của người cổ xưa và cả thế giới tự nhiên quanh họ. Tháng 10/1994, bãi chạm khắc đá cổ Sa Pa đã được Bộ VH,TT&DL công nhận là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia. Khu di tích đã được chú trọng bảo tồn và xây dựng, trở thành một điểm thăm quan thú vị đối với du khách trong nước và quốc tế.
 
 Vết khắc trên các hòn đá tại bãi đá cổ Sa Pa. 
Người dân bản địa vẫn quen gọi quần thể bãi đá cổ Sa Pa là “thư viện trời”. Đối với các nhà nghiên cứu, đây là một kho báu văn hóa cổ hiếm có, cần được giữ gìn và giải mã. Trong dịp kỷ niệm 110 năm du lịch Sa Pa, dự kiến số lượng khách du lịch đến thăm quan, khám phá bãi đá cổ sẽ tăng đột biến. Do đó, ban quản lý di tích huyện Sa Pa - đơn vị trực tiếp quản lý di tích đã có sự chuẩn bị cần thiết, nhằm đảm bảo đón tiếp du khách một cách chu đáo nhất, đồng thời tránh những tác động tiêu cực tới di sản văn hóa này.

Khu du lịch Sa Pa đã trải qua 110 năm hình thành và phát triển, song Sa Pa vẫn hàm chứa không ít những điều bí ẩn, những nét hoang sơ, mà bãi đá cổ này là 1 minh chứng điển hình. Chính điều này, cùng với sự độc đáo của tự nhiên và nét đẹp văn hóa tộc người đã tạo nên sức hút mãnh liệt của Sa Pa đối với du khách trong nước và quốc tế./.

Thác Bay (Đắk Lắk) - Vẻ đẹp hoang sơ giữa đại ngàn


Thác Bay là một thác nước đẹp ở xã Ea Sô, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk. Đây là một thắng cảnh đẹp, hoang sơ giữa núi rừng của Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, nằm cách trụ sở Ban quản lý khu bảo tồn khoảng 15 km, thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn.

Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô được thành lập tháng 7 năm 1999 với tổng diện tích tự nhiên là 27.800 ha, chia làm ba khu: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt rộng 15.959ha; phân khu phục hồi sinh thái 9.816 ha và phân khu dịch vụ hành chính 2.025 ha.

Theo số liệu thống kê thì khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô có tất cả 709 loài với 139 họ, thuộc các ngành như: thông, dương xỉ và ngọc lan; hệ động vật có 44 loài thú, 158 loài chim, 23 loài bò sát, 7 loài ếch nhái, trong đó có những loài chim, thú đặc biệt quý hiếm như: beo lúa, voi, cheo, bò tót, gấu chó, gấu ngựa, sóc đỏ, vượn đen, khỉ mặt đỏ, gà lôi trắng…

Trong số loài động vật sống ở khu bảo tồn có 22 loài quý hiếm được ghi tên trong Sách Đỏ của Việt Nam và thế giới. Ngoài động thực vật quí hiếm, khu bảo tồn còn là khu rừng sinh thái đẹp với dòng thác âm thầm chảy từ bao đời nay.

Thác được hình thành trên một dòng suối nhỏ hiền hòa trong mùa khô nhưng hung dữ vào mùa mưa, nằm hoang sơ giữa những cây rừng thuộc họ có rễ phụ đan kín trông rất lạ mắt.

Thác với cột nước đổ trên cao khoảng 20 m đổ xuống một mặt hồ rộng và sâu, tung bọt trắng xóa rồi trở về lại với dòng chảy hiền hòa, uốn lượn giữa đại ngàn Ea Sô xanh thẳm.

So với các thác nước khác của Đắk Lắk như thác Gia Long, thác Krông Kmar..., thác Bay ít được mọi người biết đến do không thuận tiện về đường đi lại và nằm trong khu Bảo tồn nên việc khai thác du lịch còn đang rất hạn chế.

Vậy nhưng đây lại chính là điểm mạnh của thác Bay vì đến với thác này, du khách sẽ được thưởng ngoạn một thắng cảnh hoàn toàn còn hoang dã và được trở về với thiên nhiên thật trọn vẹn./.
 

Cổ kính chùa Âng – Trà Vinh


Trong hệ thống 141 ngôi chùa Khmer trên đất Trà Vinh, chùa Âng (tiếng Khmer là Angkorajaborey), được xem là ngôi chùa cổ kính nhất, độc đáo nhất và có lẽ đẹp nhất, với những giá trị nghệ thuật, văn hóa, điêu khắc và tôn giáo còn lại ở đây. Vì thế, đến với đất Trà Vinh thì không thể không đến với chùa Âng một lần.

Nằm cách trung tâm thành phố Trà Vinh khoảng 7km, chỉ một cuốc xe ôm hoặc một chuyến taxi ngắn là tới chùa Âng, nằm trong khuôn viên rộng khoảng 4ha với không gian êm đềm, cổ kính và thơ mộng.
Theo truyền thuyết, chùa Âng được xây dựng lần đầu tiên vào khoảng năm 990, cuối thế kỷ 10, nhưng thông tin này đến nay vẫn chưa xác định rõ thực hư. Nhưng nếu tính từ đời vị trụ trì đầu tiên, cũng như theo nhiều sách sử còn lưu lại, chùa Âng có khả năng được xây dựng bằng tre lá từ năm 1695, đến năm 1842 thì được dựng lại bằng gỗ quý. Sau đó còn được xây dựng, sữa chữa, trùng tu vài lần cho đến ngày nay.
Chùa Âng được xây dựng hoàn toàn theo phong cách chùa Khmer Nam Bộ, xung quanh có hào nước sâu bao bọc. Cổng chùa là ba ngọn tháp cao có đắp biểu tượng con chằn. Phía trước chính điện là 6 cây cột cao, chạm khắc nhiều hình tiên nữ, chim thần vô cùng sống động. Mái chùa khá đặc biệt, lợp ngói, chia thành 3 tầng, được chống đỡ bằng 12 cột gỗ quý. Mái trên cùng rất dốc và cao hơn hai mái còn lại, các chóp mái cong vút và vươn cao, tạo nên sự hài hòa vô tận giữa con người, tôn giáo và thiên nhiên bao la. Các gò mái có thần rắn Naga đuôi cong vút, tượng trưng cho sự dũng mãnh vĩnh cửu. Xung quanh còn có những cột trụ, hàng rào với đầu thần Bayon bốn mặt.
Cửa chính của chùa mở về hướng Đông, thêm cửa hậu mở về hướng Tây, dẫn vào chính điện trên một nền đất đắp cao khoảng 2m. Giữa trang chính điện là bệ thờ theo phái Phật giáo Nam Tông, chỉ thờ Phật Thích Ca với tượng Phật chính cao 2,1m, nét mặt hiền từ. Xung quanh còn có khoảng 50 tượng Phật lớn nhỏ tạc bằng đá hoặc gỗ, bức tượng nào cũng có thần thái hết sức sinh động, là những tác phẩm nghệ thuật có giá trị cao. Các bức tường quanh chính điện là những bức tranh vẽ, kể về cuộc đời Đức Phật Thích ca. Đặc biệt, trên trần của chính điện là bốn bức bích họa lớn, mô tả bốn giai đoạn trong cuộc đời Đức Phật: Đản sanh, xuất gia, đắc đạo và nhập niết bàn.
Có thể nói, chùa Âng không chỉ là một ngôi chùa, còn là một trung tâm văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo, giáo dục quan trọng, là nơi bảo tồn, gìn giữ, và phổ biến những kinh điển, giáo lý, sách báo, các tác phẩm văn học nghệ thuật quan trọng của người dân trong vùng cũng như của khách thập phương. Những bức tượng, bích họa, điêu khắc trang trí trong chùa chính là những công trình kiến trúc - mỹ thuật và nghệ thuật độc đáo, tiêu biểu.
Ngoài ra, chùa Âng còn là một trung tâm văn hóa - giáo dục quan trọng, là nơi dạy chữ Khmer cho trẻ em và sư sãi trong vùng, là ngôi trường mà các thanh niên Khmer đến tu học.
Đến thăm chùa Âng, chiêm ngưỡng những giá trị kiến trúc, nghệ thuật độc đáo, lắng nghe tiếng kinh kệ thanh bình, vui với tiếng ê a đọc chữ của trẻ em, thư thái tản bộ quanh chùa để cảm nhận thiên nhiên và cuộc sống đang hòa quyện vào nhau...là những cảm xúc khó quên./.

Đến Thanh Hóa thăm lăng mộ vua Lê Thái Tổ

Lăng vua Lê Thái Tổ là một quần thể di tích đặc biệt lưu giữ dấu ấn quan trọng về đức Vua - người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đập tan quân xâm lược nhà Minh và lập ra triều đại nhà Lê Sơ thịnh trị bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

Nằm cách sân bay Thọ Xuân không xa, lăng vua Lê Thái Tổ (hay còn gọi là Vĩnh Lăng) thuộc quần thể di tích Lam Kinh, nằm trên địa bàn xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

Kiến trúc đơn giản và tôn nghiêm

Ngược dòng lịch sử các triều đại phong kiến, trong bất cứ hoàn cảnh nào, khi đất nước thái bình thịnh trị hoặc chiến tranh xảy ra thì việc xây dựng lăng mộ của các vị Vua luôn là vấn đề quan trọng đối với triều đại bởi vì ngoài chức năng là một nơi an nghỉ vĩnh hằng của các vị hoàng đế thì nó còn thể hiện sự tôn nghiêm của bậc quân vương và sự hưng thịnh của vương triều.

Do vậy, các bậc vua chúa đều chú trọng xây dựng lăng mộ cho mình ngay khi vừa mới lên ngôi với quy mô rất tráng lệ, uy nghi, lộng lẫy. Tuy nhiên, đối với vua Lê Thái Tổ, một vị Vua xuất thân áo vải thì lăng mộ hết sức giản dị.

Về bố cục, điều đặc biệt nhất của Vĩnh Lăng là không xây thành lăng mộ giống như các lăng tẩm của vua chúa khác mà được xây dựng thành hình gần vuông, mỗi cạnh là 4,43m x 4,46m, cao 1m, xây bằng gạch vồn xếp khít mạch và không trát. Phía mặt trên lăng để cỏ mọc chứ không lợp thành mái. Phía trước của lăng, hai bên có quan hầu và bốn đôi tượng giống đối nhau. Theo thứ tự tính từ mộ ra, bên trái quan văn, bên phải quan võ, đến tượng nghê, ngựa, tê giác và hổ. Về hình thức, các bức tượng đều bằng đá và được chạm khắc mềm mại, đơn giản. Đến năm 1933, nhân dân địa phương cung tiến thêm 4 voi chầu đắp bằng gạch và vôi vữa.

Hòa hợp với thiên nhiên

Địa thế Vĩnh Lăng được xây dựng ngay phía sau cung điện Lam Kinh, trên một vùng đất rộng và cao ráo giống như hình mai rùa, phía trước có núi Chúa, phía sau có núi Dầu, hai bên đều có núi, đối diện có sông. Xung quanh lăng mộ là những loại cây cổ thụ có hàng trăm năm tuổi như sưa, đa, lim, đại, bồ đề, ổi…

Bố cục độc đáo, riêng có của Vĩnh Lăng thể hiện sự khiêm nhường, giản dị và hòa hợp với thiên nhiên của Hoàng đế Lê Thái Tổ. Đồng thời, dù rất đơn giản nhưng lại tôn nghiêm, tự nhiên và trang trọng.

Hiện tại, kiến trúc Vĩnh Lăng vẫn giữ được chọn vẹn vẻ đẹp cổ kính và nguyên bản. Quần thể Di tích Lam Kinh, trong đó có Vĩnh Lăng đã được công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 1962. Năm 2012, khu Di tích này tiếp tục được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt.

Đến thăm Vĩnh Lăng, chúng ta không khỏi bất ngờ bởi sự độc đáo trong kiến trúc lăng mộ mà quan trọng hơn, chúng ta thêm hiểu và khâm phục đức tính khiêm nhường, giản dị của một bậc đế vương, một vĩ nhân từng lập nên nhiều chiến công lừng lẫy trong lịch sử như Lê Lợi. Đó cũng chính là những bài học quý giá cho hậu thế noi theo. /.

Đình Kiền Bái, vẻ đẹp xưa trên đất Hải Phòng

Nằm ở xóm Đông, xã Kiền Bái, huyện Thủy Nguyên, đình Kiền Bái là công trình kiến trúc - điêu khắc cổ kính và nổi tiếng của Hải Phòng. Di tích này có từ thế kỷ XVII - thế kỷ phát triển rực rỡ của nghệ thuật dân gian.

Đình Kiền Bái có quy mô vừa phải nhưng được làm hoàn toàn bằng gỗ lim, có cấu trúc hình chữ “đinh” quen thuộc và là ngôi đình duy nhất ở Hải Phòng còn giữ được hệ thống ván sàn thời khởi dựng.

Đình ngoài hay còn gọi là tiền đường gồm ba gian, gian giữa là nơi tiến hành các nghi lễ tế tự. Đình trong (hậu cung) gồm ba gian chuôi vồ là nơi an tọa của Đức Thành Hoàng bản thổ.

Đình Kiền Bái có sức hấp dẫn du khách thập phương, các nhà nghiên cứu không chỉ ở giá trị lịch sử mà còn do nghệ thuật trang trí kiến trúc tài hoa và phóng khoáng của người xưa. Cả công trình này là một bộ sưu tập tranh điêu khắc gỗ quý giá được tạo tác trên nền của một kiến trúc cổ kính và tao nhã.

Nghệ thuật trang trí ở đình Kiền Bái chủ yếu được tập trung thể hiện trên các vị trí có điều kiệu phô diễn được vẻ đẹp của mình. Rồng là đề tài phổ biến và có mật độ khá dày đặc trong các hoạt cảnh trang trí.

Ở mỗi mảng chạm khắc dù là chạm nổi hay chạm lộng hay chạm bong kênh, bong hình thì giữa trung tâm bao giờ cũng là một rồng lớn (rồng mẹ) có thân mập, ngắn lượn từ dưới lên, đầu ngóc cao, mặt quay ra ngoài.

Rồng có đầu to, trán dô, miệng há rộng, mũi sư tử và tóc là các cụm đao lửa hình mũi mác bay về sau tạo cảm giác động trong không gian tĩnh.

Thân rồng tròn lẳn phủ một lớp vảy rắn nổi, chân có bốn móng sắc nhọn như cựa gà chọi. Chung quanh rồng mẹ dù đang vuốt râu hay hí thủy, có rất nhiều rồng con trong một tổng số lẻ như: 5, 7, 9, 11 và 13.

Đi kèm với rồng là những con vật trong hàng tứ linh như phượng, lân. Phượng thường được thể hiện trong tư thế trình diễn nghệ thuật “gia truyền” với những động tác múa uyển chuyển và kiêu sa.

Con rồng không chỉ được thể hiện cùng đồng loại hay các bậc tứ linh mà nó còn hòa mình với các con thú khác không phải là con vật “linh” ở trên các vì cốn hay mặt ngoài các ván bưng. Đó là những con thú “tầm thường” nhưng rất đỗi thân quen với làng quê và con người Việt Nam, như lợn, chó, dê, nai, mèo, cá... nhiều nhất vẫn là lợn.

Lợn có thân hình mập mạp như trong tranh Đông Hồ nhưng lại nghịch ngợm như các chú lợn rừng hoang dã. Lợn ngồi trên lưng nắm râu, cầm tóc và còn cả gan gặm chặt lấy đuôi rồng.

Du khách đã quen với các cảnh “lưỡng long chầu nguyệt”, “lưỡng long tranh châu”... nhưng “lưỡng long chầu lợn” và “rồng chầu người” chắc chỉ ở đình Kiền Bái mới có. Ngoài ra, đình còn có những tiểu cảnh đậm vẻ làng quê yên bình như lợn ăn lá dáy, mèo ngủ ngày, người cưỡi voi, ngựa voi âu yếm, voi chiến đua tài...

Lễ hội một thời vang bóng

Thời xưa, đình Kiền Bái cũng được biết đến là nơi có nhiều lễ hội lớn. Trong đó, lễ hội cướp bông được tổ chức vào ngày 12 tháng Giêng hằng năm là lễ hội “vui nhất, hoành tráng nhất, quyết liệt nhất” theo lời của các cụ cao niên.

Để chuẩn bị cho lễ hội cướp bông, làng cần hai cây tre to, cao nhất. Nhà nào có tre được chọn thì nhà đó phải đem bánh chưng, bánh dày ra tế. Sau khi hạ tre, các cụ chọn mười thanh niên chưa vợ tuổi từ 18 tuổi lên chặt hai khúc tre để vót hai cây bông hình hoa ở đầu.

Trước lễ cướp chính thức có lễ cướp cờ, cụ chủ trì lễ vừa tung cây bông lên trời, lập tức mười thanh niên trong trang phục quần đỏ, áo đỏ, thắt lưng xanh, chít khăn điều xông vào cướp trong tiếng hò reo, cổ vũ của dân làng. Đây mới chỉ là lễ cướp thử nên không có giải, lễ cướp mang tính tượng trưng ước lệ trước cửa sân đình.

Khác với lễ cướp thử, cướp giải thật thu hút rất đông người từ già tới trẻ, không kể là trai hay gái, thậm chí đàn bà có con mọn cũng được tham gia. Cuộc thi này rất đông vui, kéo dài đến sáng hôm sau.

Đồng thời với lễ hội cướp bông, thì tại đình cũng diễn ra nhiều hội thi khác thu hút đông người như hát đúm, thi làm làm cỗ bánh... Ai được giải trong cuộc thi cướp bông thì làng ưu tiên mời ăn bánh của người đạt giải nhất cuộc thi làm cỗ bánh. Hai người đoạt giải nhất của hai cuộc thi nêu trên nếu chưa vợ, chưa chồng, thì dân làng vun vén cho thành vợ, thành chồng.

Người được giải cướp bông còn được dân làng tôn vinh vì họ đã được diễm phúc của thần ban tặng. Lễ cướp bông được cho là bắt nguồn từ thời xa xưa, từ tục thờ sinh thực khí của nam giới được cải tiến và phát triển lên mà thành. Ai cướp được cây bông thì cả nhà khỏe mạnh, con cháu đông vui, làm ăn khấm khá suốt cả năm./.

Thăm chùa Linh Ứng trên đỉnh Bà Nà, Đà Nẵng

Nằm trên đỉnh Bà Nà thuộc Khu du lịch sinh thái Bà Nà với độ cao gần 1.500m, chùa Linh Ứng được khánh thành năm 2004. Kiến trúc chùa gần giống với kiến trúc của chùa Tam Thai, cả khoảng sân rộng được lót bằng đá. Phía trước chùa có một cây thông rất đặc biệt với 3 loại lá khác nhau.
Chùa Linh Ứng (Ảnh: Banahills)
Đặc biệt, chùa có một bức tượng Đức Bổn Sư uy nghi, cao 27m màu trắng. Từ thành phố Đà Nẵng, vào những ngày nắng ráo, bạn có thể nhìn thấy bức tượng trắng muốt này nổi bật trên cái nền xanh của khu du lịch nổi tiếng Bà Nà - Núi Chúa. 

Chùa thuộc hệ phái Bắc Tông. Về kiến trúc và thờ tự, chùa Linh Ứng Bà Nà được thực hiện giống Chùa Linh Ứng Ngũ Hành Sơn và cùng một sư trụ trì. Thượng tọa Thích Thiện Nguyện, trụ trì Chùa Linh Ứng Ngũ Hành Sơn, đã tổ chức trọng thể lễ đặt đá xây dựng chùa Linh Ứng Bà Nà và Thích Ca Phật đài.

Cảm giác mệt mỏi dường như sẽ tan biến khi du khách được chiêm ngưỡng tượng Phật Thích Ca tạo thiền thuộc vào hàng lớn nhất châu Á. Xây dựng trên núi cao, chùa Linh Ứng vô cùng linh thiêng, những nét kiến trúc tinh tế của chùa làm cho không khí thiền môn thêm thanh tịnh, lòng người vãn cảnh chùa thêm thanh tao, thư thái.